Hướng dẫn khí công KCT
Trung cấp 6
Cập nhật lúc: 30 Tháng Mười Một 2010 2:19:04 CH

 

Trung cấp VI

THỰC HÀNH CHỮA BỆNH


I - NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH

     LIÊN QUAN ĐẾN KHÍ CÔNG

 

 

Bên cạnh hai nền y học hiện đại và cổ truyền đang phát triển cao, người ta vẫn còn thấy nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thực nghiệm các phương pháp điều trị hỗ trợ hay liệu pháp không dùng thuốc như tâm lý liệu pháp, yoga, khí công, thôi miên và huyền pháp… những phương pháp này đã có những kết quả ghi nhận rõ ràng và ngày càng được nhiều người quan tâm đến, đặc biệt khi họ đang mắc phải các bệnh không rõ nguyên nhân hoặc có liên quan đến lĩnh vực siêu hình.  

Những người có năng lực cao về khí công, huyền pháp, thôi miên, khi đứng trước bệnh nhân họ có những động tác chữa trị giống như nhau. Ta thấy hình ảnh phóng ngoại khí của nhà khí công, việc bắt ấn vẽ bùa, thổi hơi của thầy phù thủy, cái vuốt nhỏ - lớn kèm theo ám thị của nhà thôi miên có nhiều điểm giống nhau vì họ đều tập trung tinh thần, tư tưởng cao độ, niệm thần chú, ý chú, phát lệnh hay ám thị để điều khiển trường khí. Về bản chất những trường phái này không khác nhau, đều dựa trên nền tảng là khí (prana) còn gọi là nguồn sinh khí. Người thầy chữa giỏi biết cách điều khiển cường độ khí và phóng ra từ hai bàn tay hoặc từ luân xa 8 để đẩy tan mọi dạng tà khí tồn tại trong cơ thể người bệnh. Ngày nay các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy việc chữa bệnh bằng khí công nói chung không còn là khó hiểu và bí ẩn nữa. 

 

II - CHỮA BỆNH BẰNG KHÍ CÔNG

      KIM CANG THIỀN 

Trong mỗi con người khi luân xa không đủ sức hoạt động bình thường thì cơ thể và tinh thần bị suy nhược, nếu sức đề kháng quá yếu thì bệnh càng trầm trọng, lúc này bệnh nhân cần phải được cứu chữa kịp thời. Người chữa bệnh bằng khí công dùng khí lực nội tại của mình phóng ra, dù gần hay xa đều có sự tác động đến các luân xa của bệnh nhân, giúp các luân xa của họ tăng sức hoạt động, khí huyết lưu thông, âm dương cân bằng, đẩy lùi bệnh ra khỏi cơ thể.  

Việc chữa bệnh bằng khí công, mỗi trường phái đều mang phong cách riêng trong động tác phóng khí. Khí công Kim Cang Thiền có thể phóng khí bằng tư tưởng, bằng đôi mắt hay chuyển khí lực ra bàn tay hoặc ngón tay đến người bệnh để chữa trị… tức là tập trung tinh thần, ý chí cao độ theo cách: Ý đến đâu - khí đến đó, khí ở đâu - lực ở đó, lực đến đâu - kết quả đến đó. Thủ thuật chữa bệnh của môn khí công Kim Cang Thiền diễn ra trong một thời gian không dài, hình thức tuy đơn giản mà các bệnh đều khỏi rất nhanh và người chữa trị hoàn toàn không bị tổn hao công lực. Người năng lực khí công cao có thể chữa bệnh trực tiếp hay gián tiếp đều có hiệu quả như nhau. Tuy nhiên, trong môi trường chữa bệnh cần phải bảo đảm sạch sẽ, thoáng mát, yên tĩnh nhất là phải trật tự và giữ sao cho thật yên lặng trong suốt thời gian nhà khí công chữa bệnh.

Để nắm vững các thao tác chữa bệnh bằng khí công Kim Cang Thiền, học viên nên thực tập bên cạnh người đã có một năng lực giỏi, hiểu biết sâu để được hướng dẫn cụ thể thì kết quả tốt hơn.   


 

Bài 1: Những điều người chữa bệnh

           cần phải ghi nhớ

 

 

1 - THỜI GIAN TIẾP XÚC BỆNH NHÂN   

1/ Khi nhà khí công tiếp xúc bệnh nhân phải có người trong gia đình của bệnh nhân đang ở bên cạnh, không nói chuyện riêng, cười giỡn, nói lớn tiếng, cử chỉ vô ý, không ăn uống hay hút thuốc lá làm mất thời gian chữa trị, không bày ra những lễ cúng, hay tỏ vẻ căng thẳng mọi vấn đề.

2/ Khi chữa bệnh, lúc thở ra đồng thời nở nụ cười nhẹ trên môi, sáng ngời lên ánh mắt, đưa lưỡi lên vòm miệng, không đóng thanh quản, co thắt hạ Đan điền 25% giữ lại mãi xong việc mới bỏ ra, hít thở dài hơi và thật đều. Tập trung tư tưởng vào việc chữa trị, không nói chuyện hay ngắm nhìn chung quanh.

3/ Sau khi chữa trị cho bệnh nhân, phải khéo léo tự xả trược khí ngay từ 04 - 08 hơi thở và uống một ly nước nóng…

2 - TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH

Trước khi chữa bệnh, nhà khí công cần xem kỹ các hình ảnh và những hồ sơ chẩn đoán của y học hiện đại, chú ý việc điều trị của các bác sỹ, lương y đã và đang cho sử dụng thuốc, điều này giúp nhà khí công nắm rõ hơn những bệnh chứng đang diễn biến trong cơ thể bệnh nhân. Cũng nên lưu tâm vào những việc cơ bản như sau:

- Nguyên nhân và thời gian mắc bệnh.

- Những phương pháp đã chữa trị qua...

- Bệnh do thời tiết hay trong vùng dịch tễ.

- Bệnh do ăn uống, ngủ nghỉ, lao động.

- Bệnh do gia đình, xã hội.

- Bệnh do nỗi niềm riêng tư.

- Bênh do môi trường sống

- Bệnh chưa rõ nguyên nhân, v.v...

3- CHẨN ĐOÁN VÀ XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ BỆNH

Chẩn đoán để tìm ra bệnh và tiên lượng các hội chứng đang diễn biến trong cơ thể bệnh nhân, góp phần điều trị có hiệu quả. Khi xác định bệnh và vị trí thì công việc chữa trị không mất nhiều thời gian. Có các phương pháp chẩn đoán bệnh như sau:

- Phương pháp theo Tây y: Bao gồm lâm sàng: hỏi, nhìn, sờ, gõ, nghe; cận lâm sàng: xét nghiệm, nội soi, siêu âm, chụp cắt lớp, x quang, v.v…

- Phương pháp theo Đông y: Thông qua tứ chẩn: vọng, văn, vấn, thiết và vận dụng bát cương: âm - dương, biểu - lý, hàn - nhiệt, hư - thực để phân tích tổng hợp đánh giá tình trạng sức khỏe người bệnh.

- Phương pháp qua luân xa:  

1/ Xem bệnh đang ở tại đâu do luân xa nào quản lý.

2/ Luân xa đó ở ngôi nào tinh, khí hay thần.

3/ Luân xa đó thuộc kinh âm hay kinh dương...

- Phương pháp cảm nhận xung khí:

Dùng bàn tay kiểm tra năng lượng mạnh - yếu từ các vật thể hay trược khí (bệnh đau) tích tụ trong cơ thể bệnh nhân phát ra. Hãy thực hiện như sau:

Đặt vật thể dưới tay, nếu bệnh nhân thì nằm ngửa, đầu phía tay trái của nhà khí công, nhắm mắt và để tâm nơi bệnh đau của mình.

Khi thở ra, nhà khí công dùng bàn tay phải (nhận từ trường phía dưới tác động lên mạnh hơn tay trái) rà soát lướt thật chậm, thật nhẹ qua - lại, tới - lui, khoảng cách vật thể hoặc cơ thể bệnh nhân từ 03cm - 4m. Nếu vật thể có năng lượng cao, linh khí (bùa ngải) mạnh, hay phần âm đang đeo bám, hoặc cơ thể nơi nào có bệnh thì có xung khí - khí bốc lên… cả bàn tay hoặc những ngón tay có cảm giác nóng nóng, lạnh lạnh, tê tê, thốn thốn hay có lực đẩy lên hoặc hút bàn tay của nhà khí công xuống thật mạnh, v.v…  Có thể nhận thấy rõ như sau:

+ Đối với các vật thể… tùy nơi trên bàn tay cảm nhận năng lượng mà tính giá trị lớn - nhỏ khác nhau. Ví dụ: có cảm giác nơi lòng bàn tay thì giá trị cao hơn, các ngón tay thì thấp hơn, và cũng tùy theo ngón cái, trỏ, giữa, áp út và ngón út mà tính giá trị khác nhau.

+ Đối với người bệnh, xem bảng phối hợp dưới đây:

 

 

Vị trí

Cảm giác

 

 

LÒNG BÀN TAY

Ngón

Cái

(mộc)

Ngón

Trỏ

(hỏa)

 Ngón

Giữa

(thổ)

  Ngón

Áp

(kim)

Ngón

Út

(thủy)

 

Bị

ảnh

 hưởng

bởi

 

Vong

của

các

con

 

Phần

âm

trong

gia

thân

 

 

Phần

linh

bên

ngoài

 

Phần

bùa

ngải

 

Lời

vái;

lời

thề

 

 

Cảm giác của những nơi này giống nhau, nếu như

Yếu Chậm Ít: bệnh nhẹ.

Mạnh Nhanh Nhiều: bệnh nặng.

 

Cảm

giác

 

                 

Thường thấy

 

â         â         â        â         â

 

 

NHẸ

 

Thốn

thốn:

vong

Nam

 

Đẩy

bàn

tay

lên

 

con gì

chạy

vòng

vòng

 

 

Hơi

nóng

bừng

lên

 

Rung

các

ngón

tay

 

Bệnh

túi

Mật

 

Bệnh

Ruột

non

 

Bệnh

Dạ

dày

(Vị)

 

Bệnh

Ruột

già

 

Bệnh

Bàng   

quang

 

 

NẶNG

 

 tê:

vong

Nữ

 

Kéo

bàn

tay

xuống

 

 

con gì

chạy

lung

tung

 

Lạnh

hoặc

hơi

mát

 

 

Rung

cả

bàn

tay

 

Bệnh

 Gan

 

Bệnh

Tim

 

 

Bệnh

lách

(Tỳ)

 

Bệnh

Phổi

 

Bệnh

Thận

 

- Phương pháp cảm nhận s báo tin t cơ th: Người đã khai m luân xa 5 tốt, khi tiếp cận bệnh nhân thì cơ thể cảm nhận thông tin từ phía bệnh nhân phát ra, tức là bệnh nhân đang bệnh đau nơi nào và ra sao thì họ đều có cùng cảm giác như vậy.     

- Phương pháp thấu thị: Người có huệ nhãn từ luân xa 6, khi nhìn trực tiếp hoặc nghĩ đến bệnh nhân đang ở từ xa, đều thấu suốt đến từng chi tiết những bệnh đau mà bệnh nhân đang có… họ được ví như máy siêu âm, nội soi, xét nghiệm cao cấp và hiện đại nhất, v.v…         

4- PHÓNG KHÍ CHỮA BỆNH  

Tùy theo loại bệnh và trường hợp bệnh nhân đang ở gần hay xa, nhà khí công có thể phóng khí trực tiếp hoặc gián tiếp để chữa trị. Trực tiếp chữa bệnh cho cá nhân hay tập thể dĩ nhiên giữa nhà khí công và người bệnh đều nhìn thấy rõ mặt nhau. Ngày nay công nghệ viễn thông đưa nhà khí công và bệnh nhân đang ở cách xa nửa vòng trái đất đến gần bên nhau qua điện thoại (loại có chức năng truyền hình) và Internet… Dùng Webcam kết nối hình ảnh, âm thanh giữa nhà khí công và bệnh nhân đang trao đổi thông tin… qua đó, nhà khí công có thể phóng khí chữa trị như chữa trực tiếp cho người đang ở đối diện. Chữa bệnh gián tiếp thì hai bên không nhìn thấy cử chỉ của nhau, hoặc chỉ thấy qua ảnh hay nghe tiếng nói của bệnh nhân qua điện thoại…

A- Chữa bệnh trực tiếp:   

 

B- Chữa bệnh gián tiếp:

 

5 – HIỆU NĂNG SỰ PHÁT LỆNH

Các pháp niệm chú, tự kỷ ám thị, ám thị, hay phát lệnh đều có ý nghĩa và giá trị  như nhau trong tu luyện, khi chữa bệnh hay lúc dùng linh phù giúp người hạnh phúc. Người cần chữa bệnh hay cầu linh ứng để có sự may mắn và gia đình hạnh phúc, thì trước hết họ cần có niềm tin dù tin ít hay nhiều tùy thuộc vào mỗi người. Sau đó là khả năng của người thực hiện các hành xử về tâm linh, trong đó hơi thở, tư tưởng và hành động phải hợp nhất. Có trường hợp hai vị khách với niềm tin cao cùng đến yêu cầu chữa bệnh hay xin linh phù như nhau, nhưng kết quả có thể chỉ đến cho một người. Còn người kia không có kết quả là do sự tập trung hơi thở, tư tưởng và hành động của người chữa bệnh hay nhà phù thủy không hợp nhất.

Muốn đạt hiệu năng phát lệnh phải tập trung toàn lực vào thời gian của hơi thở ra, bởi vì “thở ra là một cách phóng khí”. Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: “Phóng khí có ba cách và ba cấp, nhất tư tưởng, nhì thở ra, ba hành động (dùng lòng bàn tay hay các ngón). Nếu tập trung tư tưởng cao độ sẽ phát ra trường khí có lực hướng thẳng đến mục tiêu nhanh nhất. Tốc độ của tư tưởng nhanh hơn gấp nhiều lần so với tốc độ của ánh sáng, vì vậy dùng tư tưởng là cách cao nhất. Cách thứ hai có nêu trong sách Lỗ Ban Chân Kinh, Trương Thiên Sư có câu: Khẩu thổ tam muội chi hỏa, tức là người tập trung tư tưởng vào việc chánh đáng thì lời nói có sức thuyết phục và hơi thở ra trong việc chữa bệnh đạt hiệu quả rất lớn… Cách thứ ba thường được nhà khí công dùng chữa bệnh bằng bàn tay, hay thầy phù thuỷ dùng tay bắt ấn vẽ linh phù trừ tà ma, hoặc cái vuốt nhỏ - lớn từ bàn tay của nhà thôi miên. Nếu kết hợp ba cách trên thuần thục thì ba cấp đồng bộ hoạt động trở thành “toàn lực phóng khí” rất mạnh mẽ, nếu áp dụng vào việc chữa bệnh hay “tế thiên hành đạo” cho dù người bệnh có lòng tin hay không (người bệnh không còn đủ tinh thần để quyết định), cũng đều khoẻ mạnh, bình yên và phải khuất phục. Đó chính là nguyên tắc phối hợp ba yếu tố thân – khẩu – ý của thầy chữa sao cho năng lượng phóng vào mục tiêu đạt cường độ mạnh nhất”.

Chỉ dẫn cách tạo ra hiệu năng phát lệnh của Đạo sĩ Kim Kang Ta như sau: “Khi phát lệnh, nếu nội dung tự kỷ ám thị thì hít hơi vào, ví dụ: Tâm trí tôi minh mẫn; huệ nhãn minh khai; hạ Đan điền nóng lên; … nếu nội dung ám thị thì thở ra như: Những bệnh đau của người này phải tan biến hết; ai nhìn vào mắt tôi khỏi bệnh và hạnh phúc… và hãy sắp xếp các từ trên thật khớp với hơi thở vào hoặc ra. Nếu vẽ bùa niệm chú thì khi bắt đầu thở ra, phải đọc lời chú đầu tiên đồng thời xuống bút vẽ bùa, khi hơi thở ra kết thúc cũng đúng vào nét bút và lời chú cuối cùng, như thế là sự hợp nhất toàn diện. Nếu không đúng như vậy sẽ không có kết quả, vì thế người thực hiện quyền lực tâm linh phải tự nhận biết những điều đã làm đúng hay sai ngay trong hơi thở của mình. Nếu cảm thấy lúc này không đủ tinh thần thực hiện công việc thì nên chọn khi khác hãy làm thì mọi việc diễn biến sẽ như ý. Đừng hành động vội vàng, cẩu thả làm mất niềm tin của nhiều người”.    

6 – ĐỨC TIN VÀ MÊ TÍN

Để có kết quả trong việc chữa trị cho thân và tâm bệnh thì đức tin của người thể hiện quyền năng lẫn người có nhu cầu đều không thể thiếu. Người hiểu biết sử dụng “đức tin hàng đầu” đều thành công trên các lĩnh vực, mang đến cho bản thân cùng gia đình tràn đầy những hạnh phúc. Chúa Giê Su nói: “Đức tin dời được núi”…

Có câu: “Mất ý chí mới mất một nửa, mất niềm tin thì mất tất cả”, nhưng chúng ta phải bình tĩnh, không vội tin, biết lắng nghe, tìm hiểu rõ các vấn đề hư thật muôn màu trong xã hội, mặc dù qua những lời đồn đại lâu ngày của nhiều người nhưng thông tin không xác thực, rõ ràng cũng không nên cả tin, ngược lại là mê tín. Có những sự thật đã được rất nhiều người nhìn thấy tận mắt, sờ tận tay, thông tin từ nhiều phía rất minh bạch, vậy mà có người không chịu lắng nghe và cương quyết phủ nhận thì, quá mê tín !...  Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: ‘Mê tín là một loại bệnh rất đáng thương do trí não con người thiếu vắng sự minh mẫn cần thiết để hiểu được sự thật”.

 Bài 2: Các pháp chữa bệnh

1. Pháp Cân bằng khí kinh âm – kinh dương

Trong con người nếu chân khí suy yếu, âm dương không cân bằng thì cơ thể thường bị cảm cúm, nóng lạnh, bệnh đau… cũng từ đó các bệnh nội thương rất khó chữa trị âm thầm phát triển và những hội chứng cấp tính như tai biến, đột quỵ hay xảy ra. Cân bằng khí kinh âm - kinh dương nhằm giúp đại tiểu tuần hoàn (tim phổi) và các cơ quan tạng - phủ khác đều hoạt động thông suốt, mạnh mẽ, sức khỏe mau bình phục và nếu có tà quái cũng đều tránh xa người bệnh…

PHƯƠNG PHÁP:  


2. Pháp Phóng khí vào luân xa và vùng bệnh

Các bệnh do luân xa 6 - 7 - 8 quản lý: 

a/ Các bệnh và vùng bệnh: 

Giảm sự tập trung, tinh thần không vững mạnh, ý thức kém, bệnh vùng đại - tiểu não, hai bán cầu não trái - phải, hệ thần kinh đầu, não, cột sống, cổ, lưng, tay, chân, các bộ phận cơ thể, các cơ quan tạng phủ, huyết mạch, tiêu hoá, bài tiết, sinh dục, các cơ bắp và khớp, hai mắt, răng - hàm - mặt, tai - mũi - họng, các xoang, cổ gáy bên phải, phổi bên phải, ngực lưng sườn bên phải, vai và cánh tay bên phải, nửa thân trên bên phải, vú bên phải, da, tóc, râu và lông...

b/ Cách chữa trị:

Các bệnh do luân xa 5 quản lý: 

a/ Các bệnh và vùng bệnh:

Bệnh lao phổi tiên phát, viêm họng, thanh quản, hen phế quản, bệnh phổi bên trái, cổ gáy bên trái, vùng ngực lưng sườn bên trái, vai và cánh tay bên trái, nửa thân trên bên trái, vú bên trái, ruột già (đại tràng) ruột cùng, tiêu chảy, táo bón, sa tử cung, trôn trê...

b/ Cách chữa trị:


Các bệnh do luân xa 4 quản lý:

a/ Các bệnh và vùng bệnh:

Tim mạch, tâm bào, ruột non, tâm phế mãn, hen tim, lưỡi, giữa ngực, bụng trên, tỳ vị, cột sống lưng từ huyệt Thần đạo xuống đến huyệt Hội âm, hai mông và cả hai chân...

b/ Cách chữa trị:


Các bệnh do luân xa 3 quản lý:

a/ Các bệnh và vùng bệnh:

Thận, bàng quang, tinh tủy, các chất dịch và máu huyết, nửa thân dưới bên phải, vùng hông bên phải, xương, khớp, chức năng sinh dục, liệt dương, lãnh cảm, rong kinh, huyết trắng, tiểu đêm, tiểu đục, tiểu gắt, tiểu đường, mộng, di, hoạt tinh, trẻ ngủ có m hôi đầu và hay khóc đêm...

b/ Cách chữa trị:


Các bệnh do luân xa 1 - 2 quản lý:

a/ Các bệnh và vùng bệnh:

Dạ dày, lá lách, rối loạn thượng vị, thiếu máu, sụt cân, mất ngủ, nôn ra máu, nửa thân dưới bên trái, vùng hông bên trái, môi miệng, các cơ bắp, xương chậu, hai mông và hai chân, hậu môn, tử cung, bộ phận sinh dục namnữ, tiền liệt tuyến, tiểu đường, các khối u nhọt, hạch, viêm sưng, suy dinh dưỡng...

b/ Cách chữa trị:



3. Pháp Điều chỉnh và phục hồi

Các cách sau đây để điều chỉnh và phục hồi các khớp chấn thương, vết thương phần mềm, tái tạo tế bào, mô cơ, chữa viêm sưng, khối u, tụ máu, nhiễm trùng vết thương và cầm chảy máu do rách da nhẹ…  

Bậnh nhân có thể chọn tư thế ngồi hoặc nằm tùy ý, thở bình thường, nhắm mắt để tâm nơi bệnh của mình. Tùy theo bệnh đau nhà khí công thực hiện một hoặc kết hợp các cách như sau:

1- Khi nhà khí công thở ra đồng thời đặt bàn tay cách xa nơi đang đau của bệnh nhân từ 03cm – 10cm, xoa chậm, ngược vòng và vuốt xuống từ 07 – 09 lần, đồng thời phát lệnh theo ý muốn. 

2- Khi nhà khí công thở ra đồng thời đặt ngón tay giữa của bàn tay phải lên nơi bị viêm đau hay đang chảy máu vuốt ngược lên và phát ý lệnh từ 07 - 09 lần.

3- Khi nhà khí công thở ra đồng thời dùng hai bàn tay ôm (Ấp khí) vào nơi đang đau của bệnh nhân, khoảng cách từ 03 – 05cm, giữ yên và tập trung tư tưởng phát lệnh theo ý muốn…

4- Tùy loại và nơi bệnh, khi nhà khí công thở ra đồng thời dùng bàn tay kéo nắn, day vỗ, xoa bóp, vuốt nhẹ trực tiếp vào vùng đau của bệnh nhân đồng thời trong đầu phát lệnh theo ý muốn…

 

4. Pháp Cái ống dẫn

Bệnh nhân ngồi hoặc nằm tùy ý. Nhà khí công dùng các đầu ngón tay đặt trực tiếp vào huyệt Bách hội của bệnh nhân, bàn tay còn lại búng rẩy nhẹ nhàng để rút trược khí của bệnh nhân qua nhà khí công ra ngoài, lúc này xem nhà khí công như “cái ống dẫn”. Đây cũng là cách nhà khí công xả luôn trược khí cho mình đồng thời trong đầu ngầm phát lệnh theo ý muốn, ví dụ: “Vạn sự đều an lành… hãy sắp xếp các từ trên thật khớp với hơi thở ra.

Kết quả người bệnh đau thì mau lành và nhà khí công cũng không bị lây dính trược khí, nội lực càng tăng cao hơn trước.

5. Pháp Điều chỉnh màu sắc

Những người hay bệnh đau thì thể lực suy yếu, tinh thần khó tập trung, làm việc kém hiệu quả, thiếu hạnh phúc. Đó là những biểu lộ cho thấy trong cơ thể của người ấy có nhiều thứ bệnh đau đang hoành hành, bởi do các luân xa của họ hoạt động khai mở không bình thường, màu sắc không đủ sức tỏa sáng; mờ nhạt; quá đậm; lỗ chỗ, hoặc có nhiều màu sắc pha trộn lẫn nhau… xem bảng phân tích sau đây:

 

 

MÀU SẮC KHÔNG BÌNH     THƯỜNG

 

BỘ PHẬN

TRONG CƠ THỂ

BỊ NHIỄM ĐỘC

 

NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG... THƯỜNG THẤY

 

 

Màu đỏ

lẫn vàng

 

Cặn bã trong mạch máu hoặc thành mạch máu

 

Máu không lưu thông, nghẽn mạch,  huyết áp cao thường xuyên.

 

Màu cam

lẫn đen

 

Các khớp xương

 

Chứng viêm xương, viêm đa khớp, thấp khớp, thoái hóa, bệnh Gut.

 

Màu vàng

lẫn xanh

 

Hệ thống tiết niệu, thận

 

Bị kiệt sức, viêm  bàng quang, niệu đạo, bệnh tiền liệt tuyến, viêm tai mũi họng...

 

Màu tím

lẫn nâu

 

Gan – phổi

 

 

Cơ thể thừa chất béo, cholesteron cao, có bệnh nghiện...

 

Màu trắng đục không đều

 

Hệ thống bạch huyết

 

 

Bản thể dị ứng, viêm da, vẩy nến, kinh nguyệt không đều, huyết trắng, viêm phần phụ, tinh hoàn...

 

Màu đen

lẫn xanh

 

Sự tích tụ hay nhiễm kim loại

 

Bệnh tim, tiểu đường, suy thận mãn...

 

Màu xám tro

 

Hệ thống enzyme không hoàn hảo

 

Bị táo bón, mất ngủ, đầy hơi, đau nửa đầu...

 

Màu lục sáng lẫn đỏ

 

Tim, não, thần kinh

 

Quá u buồn, lo lắng, căng thẳng, bệnh tâm thần...

 

PHƯƠNG PHÁP: 

6. Pháp Chữa bệnh bên trong cơ thể…

 Hãy thực hiện từng bước như sau:

7. Pháp Thần nhãn

Bệnh nhân ngồi nhắm mắt để tâm nơi bệnh của mình. Nhà khí công đứng hoặc ngồi cách xa bệnh nhân từ 02 – 09 mét, mở mắt nhìn thẳng vào luân xa 8 của bệnh nhân và tập trung tư tưởng cao độ hình dung có khối khí màu tím rất tươi đẹp từ luân xa 8 của mình phóng đến bao bọc kín cả thân thể người bệnh đồng thời phát âm qua khe răng. Hoặc nhìn thẳng vào chỗ đau của bệnh nhân và phát lệnh theo ý muốn…  

8. Pháp Chữa bệnh qua Internet – Webcam

Khi nhà khí công và bệnh nhân giữ đúng thời gian giao hẹn việc thực hiện chữa bệnh qua Webcam… mọi kết nối truyền thông phải có hình ảnh và âm thanh đầy đủ. Bệnh nhân ngồi vào vị trí và mọi người chung quanh đều phải trật tự, giữ yên lặng trong suốt thời gian nhà khí công phóng khí chữa bệnh, hai bên thực hiện như sau:


III - CHỮA BỆNH CHO NHÀ KHÍ CÔNG

Từ lâu nay, những người mới học khí công năng lực chưa cao lại đi chữa bệnh cho người khác nên bản thân đã bị lây dính trược khí mà bệnh nhân thì vẫn chưa khỏi. Để an toàn trong việc này, thầy chữa bệnh trước khi rời tay ra khỏi cơ thể bệnh nhân phải nhớ dùng “Pháp tự bảo vệ”, nhằm không để trược khí của bệnh nhân chạy qua mình, nếu không thấu hiểu điều này thì người chữa bệnh sẽ mắc phải những sự nguy hại về sức khỏe, ảnh hưởng đến bản thân về sau!

  Bài 1: Tự bảo vệ    

NHỮNG ĐIỀU CẦN THỰC HIỆN:

1- Nhà khí công Kim Cang Thiền cần phải luôn nở nụ cười nhẹ bên trong, mọi lúc, mọi nơi để tâm lực mạnh mẽ và cơ thể không bị dính nhiều trược khí…  

2- Trong lúc nhà khí công còn đang đặt tay trực tiếp chữa trị bệnh nhân, hãy thu khí kinh âm ba lần. Khi hít hơi vào đến luân xa 5 vừa đầy thì nín lại (bế khí), không đóng thanh quản, liền rút nhẹ tay ra khỏi bệnh nhân, đồng thời thở nhẹ ra bằng miệng, hai lòng bàn tay xoa nhẹ vào nhau ngược vòng, 10 lần.

3- Hãy luôn luôn nở nụ cười an lạc, khi đang thở ra thì đặt tay vào bệnh nhân hoặc rút thật nhẹ cả hai bàn tay ra khỏi cơ thể bệnh nhân, Xả trược khí từ 04 - 08 lần.

4- Việc ngừng chữa bệnh từ xa, dù rất xa, thầy chữa nên kết thúc tư tưởng phóng khí lúc đang thở ra đồng thời mở mắt và nhìn sang nơi khác, hãy nở nụ cười an lạc, hai lòng bàn tay xoa nhẹ vào nhau ngược vòng, 32 lần. Sinh hoạt tự nhiên.

5- Nếu có người nhờ cạo gió, xoa bóp hoặc dìu nâng người trong gia đình đang bệnh đau… phải lưu ý, khi ta đang thở ra hãy đặt tay vào hoặc lấy tay ra khỏi cơ thể người bệnh thì không bị dính lây trược khí. Nếu không, bản thân sẽ đau nhức, mệt mỏi, hai bàn tay thường ra mồ hôi…  (mới thêm)


Bài 2: Điều chỉnh khi bị lây dính trược khí 

Một nhà khí công tài giỏi năng lực cao sẽ thao tác tự nhiên không quan tâm đến trược khí của người bệnh mà trược khí cũng không thể dính vào được. Tuy nhiên, nếu người chữa bệnh phát hiện mình đã bị lây dính trược khí khá nặng và lâu ngày thì kiểm tra lại xem bệnh đang còn ở bên ngoài hay đã vào trong (biểu – lý). Nếu bệnh còn ở bên ngoài thì nên giải biểu, tức là phải luyện tập hay dùng thuốc cho mồ hôi ra thật nhiều sẽ khỏi...; nếu bệnh đã vào trong là lý chứng, và cơ thể hư suy thì phải ăn uống hợp lý, bồi bổ khí huyết nâng cao thể trạng bằng dược phẩm, tìm người có năng lực khí công cao hơn cứu chữa...

Cần thực hiện ngay những việc như sau:

1- Đặt nhiệt kế, kiểm tra tim mạch, đo huyết áp thật kỹ cả hai tay.

2- Cơ thể đang nóng hay lạnh cũng không ra sương gió, tắm rửa nước lạnh, uống nước lạnh, nước có đá hoặc ăn  kem... nên ăn uống hợp lý và vệ sinh, đầy đủ vi-ta-min, chất, chất xơ, v.v...

3- Nếu cơ thể lạnh thì thường xuyên giữ ấm cơ thể, uống sữa nóng, trà nóng có đường hay mật ong pha với nước ấm… mỗi ngày dùng 03 – 04 lần.

4- Nếu cần thì giác hút, xoa bóp và bấm huyệt.

5- Nếu cần thì xông hơi nước nóng có nấu lá xả, bưởi, chanh, ngũ trảo, bồ bồ, ô rô... hoặc buồng kín có nhiều đèn néon...

6- Nếu cần thì dùng thuốc giải cảm theo dân gian hoặc đông y; uống trà chanh, trà gừng nóng...

7- Bệnh ở giai đoạn biểu hay đã nhập lý hoặc mãn tính đều dùng cách tập: ngồi động tác 01, trong bài Nhật nguyệt hoa thiên công kết hợp pháp Xả trược khí, khi mồ hôi ra khắp cơ thể bệnh sẽ thuyên giảm ngay, và nên luyện tập 03 lần trong ngày.  

8- Nếu nơi nào bị đau nhức, tức lói, hít thở khó, nhất là thở ra khó (thở không nghe ra hơi) v.v... Hãy kết hợp luyện tập các bài Mãn xuân công, Xả trược khí, Phát nội lực, và nếu xét thấy rất cần thiết thì tập thêm bài Chuyển thân công, mỗi ngày 03 - 04 lần, mỗi lần 60 phút.

9- Nếu bệnh chuyển sang lao và ung thư phổi mới phát... Nên bảo bệnh nhân đứng hoặc ngồi thoải mải (không nằm) và hít thở thật sâu. Chờ lúc bệnh nhân đang thở ra thì nhà khí công vỗ mạnh 02 cái vào vùng giữa luân xa 4 và 5 đồng thời phát lệnh theo ý muốn…

Mỗi ngày chỉ chữa một lần, một tuần chữa 5 lần (từ thứ hai đến thứ sáu) và liên tục chữa đến 08 tuần (được 40 lần) thì bệnh tình chuyển biến rất khả quan... tiếp tục chữa trị sau ba tháng có thể lành bệnh.  

10- Nếu bệnh diễn biến phức tạp thì lập tức đưa bệnh nhân đến ngay bệnh viện có đầy đủ phương tiện chữa trị, không để chậm trễ.     

 

Bài 3: Chữa bệnh tẩu hỏa nhập ma    

Người luyện tập khí công nếu các luân xa hoạt động thông suốt thì “hỏa thanh khí” từ thận bốc lên nuôi tinh – khí – thần vững mạnh. Người tập trung tư tưởng, luyện  hơi thở và điều khí sai phương pháp thì “hỏa trược khí” tích tụ lại rất nhiều tại các luân xa gây ra bệnh tẩu hỏa nhập ma. Khi người bệnh đến phòng khám thì thầy thuốc thường nhận thấy có các hội chứng: rối loạn tinh thần, khí huyết hư tổn, ngũ lao, thất thương, phiền nhiệt. v.v…  

Bệnh tẩu hỏa nhập ma cần được phát hiện sớm, điều trị kết hợp với nhiều phương pháp và chăm sóc cẩn thận sẽ có kết quả. Bệnh nhẹ thì cần nghỉ ngơi, giải trí, du lịch, thể thao và luyện tập động khí công đúng bài bản. Nếu nặng hơn phải cần đến giới y học hiện đại, cổ truyền, dân tộc hay các nhà khí công và thôi miên tài giỏi cứu trợ….

Các phương pháp xin gợi ý sau đây:

1 - Tắm nước lá có mùi thơm tinh dầu như bạc hà, sả, bưởi, bồ bồ, ngũ trảo…

2 - Xông trầm hương, long não và băng phiến (các đạo sĩ hay đốt chánh du trầm hương để luyện công giúp khí chung quanh thanh thoát và thần dễ nhập tĩnh)…

3 - Xoa dầu thơm – phương pháp này kết quả khá bất ngờ.

4 - Khí công: Phóng khí trực tiếp, chủ yếu vào các luân xa  8 +6 – 7+5 – 7+4 – 7+3 và 3+4, thời gian từ 10 – 30 phút.   

5 - Thôi miên: Giải tỏa từ lực bao vây, đưa bệnh nhân vào giấc ngủ thụy miên…

6 - Có các bài thuốc kinh nghiệm trong dân gian và châm cứu mới phát hiện có thể dùng chữa bệnh tẩu hỏa nhập ma như sau:   

A - TOA THUỐC 1:  

* Dùng cho cơ thể nhiệt, bệnh nhẹ.  

- Giá đậu xanh 300g.

- Công dụng: Giải độc, hạ sốt, tiêu dư nhiệt và tà khí trong cơ thể, làm ra mồ hôi, hết viêm họng, khàn tiếng, dễ thở, an thần, thông tiểu tiện nhẹ người.

- Chống chỉ định: Người thể tạng hư hàn không dùng.

- Chế biến: Ngâm trong 1.000 – 2.000ml nước sôi.

- Cách dùng: uống thoải mái trong ngày.

- Thời gian dùng: từ 05 -10 ngày có hiệu quả.

B - TOA THUỐC 2:

* Dùng cho cơ thể nhiệt, bệnh nặng.

- Đậu đen xanh lòng 500 gam.

- Công dụng: Giải độc, hạ sốt, tiêu dư nhiệt và tà khí trong cơ thể, làm ra mồ hôi, hết viêm họng, khàn tiếng, dễ thở, an thần, thông tiểu tiện nhẹ người, trị ngũ lao phiền nhiệt, dưỡng tạng phủ, an thần tỉnh trí, tăng thể lực, đẹp người, sáng da, đẩy lui đau bệnh.

- Chống chỉ định: Người thể tạng hư hàn không dùng.

- Chế biến: Rửa qua nước lạnh loại bỏ tạp chất, tiếp theo rửa qua nước sôi, đem phơi trong mát thật khô, bảo quản kỹ.

- Cách dùng: Chỉ dùng liều duy nhất, mỗi buổi sáng trước khi ăn một giờ đồng hồ, uống 49 hạt (nuốt trọng không được nhai).

- Thời gian dùng: từ 02 – 03 tháng có hiệu quả. 

C - CHÂM CỨU:

Ngày nay khoa châm cứu dược xem là phương pháp điều trị hỗ trợ hay liệu pháp không dùng thuốc. Công năng chính là thông kinh hoạt lạc, giải tà khí, v.v… vì vậy hầu hết các chứng bệnh nhất là mãn tính, kể cả bệnh nan y lâu năm nếu gặp lương y giỏi dùng châm cứu đều có hiệu quả. Các bạn có thể thực hiện thủ pháp theo trình tự như sau:  

- Ngày thứ nhất

* Tư thế nằm sấp

Ứng dụng pháp thần châm… và dùng kim châm các huyệt trên luân xa theo kinh âm – dương như sau:  

 

 

TT

 

TÊN HUYỆT

 

VỊ TRÍ

 

1

Ấn đường

 

Tại chính giữa đường nối 2 đầu lông mày và đường thẳng giữa sống mũi.

2

Bách hội

Gấp 2 vành tai về phía trước, huyệt ở điểm gặp nhau của đường thẳng dọc giữa đầu và đường ngang qua đỉnh vành tai, sờ vào đó thấy 1 khe xương lõm xưống.

3

Thần đạo

Chỗ lõm dưới đầu mỏm gai đốt sống lưng 5.

4

Hội âm

Giữa hậu môn và b sinh dục…

5

Yêu du

Tại chỗ lõm dưới mỏm gai đốt sống cùng 4 hoặc ở chính giữa đường nối 2 lỗ cùng 4.

6

Đại chùy

Huyệt ở chỗ lõm ngay dưới đầu mỏm gai của đốt sống cổ 7.

7

Não hộ

Chỗ lõm ngay trên ụ chẩm ngoài, trên huyệt Phong phủ 1,5 thốn. 

8

Mệnh môn

Ở ch lõm đầu mỏm gai đốt thắt lưng 2.

 

- Ngày thứ hai

* Tư thế ngồi

Dùng kim châm các huyệt như sau:

 

 

TT

 

TÊN HUYỆT

 

VỊ TRÍ

 

1

Ấn đường

(chích lấy máu, 1 lần)

Tại chính giữa đường nối 2 đầu lông mày và đường thẳng giữa sống mũi.

2

Nhân trung

(châm ra máu, 1 lần)

Tại điểm nối 1/3 trên và 2/3 dưới của rãnh nhân trung, giữa đáy rãnh.

3

A thị

(chích lấy máu,1 lần)

Huyệt không có vị trí nhất định, có thể nằm trên hoặc ngoài đường kinh.

4

Bách hội

Gấp 2 vàmh tai về phía trước, huyệt ở điểm gặp nhau của đường thẳng dọc giữa đầu và đường ngang qua đỉnh vành tai, sờ vào đó thấy 1 khe xương lõm xưống.

5

Tứ thần thông

Xác định huyệt Bách hội, rồi đo ra bốn bên (trên đốc mạch) mỗi đoạn 1 thốn.

6

Thiên trụ

Ở vùng gáy, dưới u lồi chẩm phía ngoài, ngang huyệt Á môn ra 1,3 thốn, ở bờ ngoài cơ thang.

7

Tiền đình

Trên đường dọc giữa đầu, phía trước huyệt Bách hội 1,5 thốn.

8

Thần môn

Ở phía xương trụ, nằm trên lằn chỉ cổ tay, nơi chỗ lõm sát bờ ngoài gân cơ trụ trước và góc ngoài bờ  trên xương trụ.

9

Thần môn điểm

Huyệt của Nhĩ châm. Chỗ viền gấp của đỉnh đối vành tai, phía bên trên huyệt Khoang chậu.

10

Yến khẩu

Ở hai bên khóe miệng, huyệt nằm giữa nơi tiếp giáp thịt đỏ và trắng của khóe miệng.

11

Não hộ

Chỗ lõm ngay trên ụ chẩm ngoài, trên huyệt Phong phủ 1,5 thốn.

12

Thái dương

Phía sau điểm giữa đoạn nối đuôi lông mày và đuôi mắt ước 1 thốn, nơi chỗ hõm sát cạnh ngoài mỏm ổ mắt xương gò má, đè vào có cảm giác ê tức...

13

Ngọc chẩm

Ngang huyệt Não hộ cách ra 1,3 thốn.

14

Phong phủ

Chỗ lõm giữa gáy và ở trên chân tóc 1 thốn. Giữa khe của xương chẩm và đốt sống cổ thứ nhất.

15

Phong trì

Ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức – đòn - chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ.

16

Phong quắc

Tại điểm nối phía trong thùy tai nhỏ với huyệt Á môn đo lên phía trước 0,5 thốn.

17

Đại chùy

Huyệt ở chỗ lõm ngay dưới đầu mỏm gai của đốt sống cổ 7.

18

Kiên tỉnh

Điểm cao nhất của đầu ngoài xương đòn, ấn vào có cảm giác ê tức.

19

Khúc trì

Co khuỷu tay vô ngực, huyệt ở đầu lằn chỉ nếp gấp khuỷu...

20

Hợp cốc

Khép ngón trỏ và ngón cái sát nhau, huyệt ở điểm cao nhất của cơ bắp ngón trỏ - ngón cái.

21

An miên 4

Đỉnh mắt cá chân trong lên 4,5 thốn (tức từ huyệt Tam âm giao lên 1,5 thốn).

 

- Ngày thứ ba   

* Tư thế nằm ngửa 

* Dùng kim châm các huyệt như sau:

 

 

TT

 

TÊN HUYỆT

 

VỊ TRÍ

 

1

Bách hội

Gấp 2 vành tai về phía trước, huyệt ở điểm gặp nhau của đường thẳng dọc giữa đầu và đường ngang qua đỉnh vành tai, sờ vào đó thấy 1 khe xương lõm xưống.

2

Thần đình

Ở sau chân tóc trán 0,5 thốn. Nơi người đầu hói, lấy ở huyệt Ấn đường thẳng lên 3,5 thốn.

3

Bản thần

Trong chân tóc trán 0,5 thốn, từ khóe mắt ngoài kéo lên chân tóc.

4

Đầu duy

Nơi góc trán, cách bờ chân tóc 0,5 thốn, trên đường khớp đỉnh trán, từ huyệt Thần đình đo ra 4 thốn.

5

Ngạch trung

Điểm giữa 2 đầu lông mày (huyệt Ấn đường) lên chạm đường ngang giữa trán.

6

Ấn đường

Tại chính giữa đường nối 2 đầu lông mày và đường thẳng giữa sống mũi.

7

Toán trúc

Chỗ lõm đầu trong chân mày, thẳng lên từ góc mắt trong.

8

Tình minh

Cách đầu trong góc mắt 0,1 thốn (0,2cm).

9

Thái dương

Phía sau điểm giữa đoạn nối đuôi lông mày và đuôi mắt ước 1 thốn, nơi chỗ hõm sát cạnh ngoài mỏm ổ mắt xương gò má, đè vào có cảm giác ê tức...

10

Thiên đột

Giữa chỗ lõm trên bờ xương ức.

11

Chiên trung

Ở điểm gặp nhau của đường dọc giữa xương ức với đường ngang qua 2 đầu núm vú (đàn ông) hoặc ngang qua bờ trên 2 khớp xương ức thứ 5 (đàn bà).

12

Thần phủ

Tại ngay chính giữa chấn thủy (Cưu vĩ).

13

Trung quản

Lỗ rốn thẳng lên 4 thốn hoặc lấy ở điểm giữa của đoạn thẳng nối rốn – và đường gặp nhau của 2 bờ sườn.

14

Nhật nguyệt

Tại giao điểm của đường thẳng ngang qua đầu ngực và khoảng gian sườn 7.

15

Khí hải

Lỗ rốn thẳng xuống 1,5 thốn.

16

Túc tam lý

Dưới mắt gối ngoài 3 thốn, nơi khe giữa xương chày và xương mác. Hoặc úp lòng bàn tay vào giữa đầu gối, đầu ngón tay giữa chạm vào xương ống chân (xương chày), từ đó hơi xịch ra phía ngoài một ít là huyệt.

17

Trung phong

Ở phía trước bờ dưới mắt cá trong 1 thốn, nơi chỗ lõm ở bờ trong gân cơ chày trước, khe khớp xương sên và xương gót, giữa huyệt Giải khê (Vị) và Thương khâu (Tỳ).

18

Đại đôn

Tại đốt thứ nhất ngón chân cái, cách bờ ngoài gốc móng khoảng 0,1 thốn (0,2 cm).

19

An miên 4

Đỉnh mắt cá chân trong lên 4,5 thốn (tức từ huyệt Tam âm giao lên 1,5 thốn).

20

Khúc trì

Co khuỷu tay vô ngực, huyệt ở đầu lằn chỉ nếp gấp khuỷu...

21

Lao cung

Huyệt ở trên đường văn tinh của gan bàn tay, nơi khe của ngón giữa và ngón vô danh chạm vào đường văn này...

        - Ngày thứ tư

* Tư thế nằm sấp

* Dùng kim châm các huyệt như sau:

 

 

TT

 

TÊN HUYỆT

 

VỊ TRÍ

 

1

Bách hội

Gấp 2 vành tai về phía trước, huyệt ở điểm gặp nhau của đường thẳng dọc giữa đầu và đường ngang qua đỉnh vành tai, sờ vào đó thấy 1 khe xương lõm xưống.

2

Tứ thần thông

Xác định huyệt Bách hội, rồi đo ra bốn bên (trên đốc mạch) mỗi đoạn 1 thốn.

3

Não hộ

Chỗ lõm ngay trên ụ chẩm ngoài, trên huyệt Phong phủ 1,5 thốn.

4

Ngọc chẩm

Ngang huyệt Não hộ cách ra 1,3 thốn.

5

Phong phủ

Chỗ lõm giữa gáy và ở trên chân tóc 1 thốn. Giữa khe của xương chẩm và đốt sống cổ thứ nhất.

6

Phong trì

Ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức-đòn-chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ.

7

Tân nhất

Giữa gai xương sống cổ 5 và 6.

8

Đại chùy

Huyệt ở chỗ lõm ngay dưới đầu mỏm gai của đốt sống cổ 7.

9

Kiên tỉnh

Điểm cao nhất của đầu ngoài xương đòn, ấn vào có cảm giác ê tức.

10

Thần đường

Dưới gai đốt sống lưng 5, đo ngang 3 thồn, cách huyệt Tâm du 1,5 thốn.

11

Thân trụ

Chỗ lõm dưới đầu mỏm gai đốt sống lưng 3.

12

Thần đạo

Chỗ lõm dưới đầu mỏm gai đốt sống lưng 5.

13

Tâm du

Dưới gai sống lưng 5, đo ngang ra 1,5 thốn.

14

Tứ hoa huyệt

Gồm 2 huyệt Cách du, dưới gai đốt sống lưng 7 đo ngang ra 1,5 thốn, và 2 huyệt Đởm du, dưới gai sống lưng 10, đo ngang ra 1,5 thốn.

15

Trường cường

Ở chỗ lõm sau hậu môn và trước đầu xương cụt 0,3 thốn.

16

Mệnh môn

Ở ch lõm đầu mỏm gai đốt thắt lưng 2.

17

Ủy trung

Ngay giữa lằn chỉ ngang nếp nhượng chân.

18

Tam âm giao

Ở sát bờ sau – trong xương chày, bờ trước cơ bắp dài trước ngón chân và cơ cẳng chân sau, từ đỉnh cao của mắt cá chân trong đo lên 3 thốn.

19

Não căn

Tại ch lõm giữa gân gót chân và mắt cá chân ngoài (gần huyệt Côn lôn).

20

An miên 4

Đỉnh mắt cá chân trong đo lên 4,5 thốn (tức từ huyệt Tam âm giao lên 1,5 thốn).

21

Dũng tuyền

ới lòng bàn chân, huyệt ở điểm nối 2/5 trước với 3/5 sau của đoạn đầu ngón chân th 2 và giữa b sau gót chân, ch lõm dưới bàn chân.

 

Tác dụng chung: Thông kinh hoạt lạc, giải tà khí, khai huyết, ích dương, bổ âm, an não cân, định thần chí, hồi phục sức khỏe...

Chủ trị: Khí huyết hư tổn, tâm trí không định, ngũ lao, thất thương, tinh thần cơ thể đều suy sụp, tay chân yếu đuối, v.v...

Cách châm cứu: 1 – Các huyệt khác dùng thể châm và cứu bình thường. 2 – Riêng Tứ hoa lục huyệt: Gồm Tứ hoa huyệt + Trường cường + Khí hải thì cần cứu là chính. Lúc đầu cứu 07 hoặc 14 hoặc 21 cho đến 100 tráng.

Lưu ý: Mồi của liều thuốc dùng cứu phải làm t chánh ngải nhung và chánh xạ hương thì việc chữa bệnh tẩu hỏa nhập ma mới có hiệu quả. Mỗi ngày châm cứu một tư thế, liên tục đủ bốn tư thế thì tính một đợt, nên nghỉ một ngày. Qua ba đợt thì tính một chi (12 lần chữa), nên nghỉ liên tục 03 ngày. Sau đó tiếp tục thực hiện lại như ban đầu, có trích lể lấy máu. Một liệu trình 10 chi (120 lần chữa) có kết quả rất cao. Tùy theo bệnh trạng diễn biến, có thể châm cứu tăng hay giảm huyệt hoặc tùy người có kinh nghiệm thay đổi huyệt khác...  


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại

Các thông tin khác

                   

  CLB. KCKCT TP Hà Nội                                CLB. KCKCT TP Hồ Chí Minh                       CLB. KCKCT TP Saint Petersburg - Nga     CLB. KCKCT TP Tver - Liên Bang Nga        CLB. KCKCT TP Moscow - Liên B. Nga

 
 


 

Website: http://www.khicongkimcangthien.com

              http://www.khicongkimcangthien.net