Hướng dẫn khí công KCT
Sơ cấp 1
Cập nhật lúc: 07 Tháng Mười Hai 2010 1:02:00 CH

Hướng dẫn Khí công Kim cang Thiền-Sơ cấp 1

Sơ cấp I

 
 

TÌM HIỂU CHUNG     


I - NGUỒN GỐC KHÍ CÔNG KIM CANG THIỀN

Tôi tên Trần Kim Cang, pháp danh Thích Liên Nhã, xin ghi lại câu chuyện trong giấc mơ lúc đang giữ chức trụ trì chùa Phú Thọ, đường Lãnh Binh Thăng quận 11 Sài Gòn, như sau:   

“Vào đêm rằm tháng 10 năm Ất Tị, nhằm ngày 07 – 11 – 1965, nửa đêm khuya trong lúc tịnh thiền, tiềm thức tôi thấy một cụ già tóc bạc, mặc áo rộng có thêu nhiều hình bát quái bằng chỉ kim tuyến màu vàng sáng chói… tôi hiểu ngay đây là Đức Thái Thượng Lão Quân. Ngài trao cho tôi một cái túi vải nhung màu đỏ, tôi mở dây cột miệng ra thấy một quyển sách ngoài bìa cũng màu đỏ, chính giữa dán một mẩu giấy nhỏ màu trắng có ghi mấy chữ nho bằng mực đen “DỊCH QUÁI LINH PHÙ” (sách có tựa là Kim Cang Dịch Quái Linh Phù). Sau đó Ngài trao tiếp cho tôi một cái túi vải nhung màu đen, tôi mở dây cột miệng ra thấy một quyển sách ngoài bìa cũng màu đen, chính giữa dán một mẩu giấy nhỏ màu trắng có ghi mấy chữ nho bằng mực đen “KHÍ CÔNG BÍ TRUYỀN” (sách có tựa là Khí Công Kim Cang Thiền). Rồi Ngài lại trao tiếp cho tôi một cái túi vải nhung nữa màu xanh lá cây, tôi mở dây cột miệng ra thấy một quyển sách ngoài bìa cũng màu xanh lá cây, chính giữa dán một mẩu giấy nhỏ màu trắng có ghi mấy chữ nho bằng mực đen “HUYỀN BÍ CÔNG PHU” (sách có tựa là Bí Tắc Kim Cang Công Phu).

Bỗng có cơn gió thổi đến rất mạnh, khiến tôi bay lên tận không trung. Tôi thấy mình đang dạo bước thảnh thơi trên những đám mây có năm màu sáng chói, tươi đẹp, tôi đưa mắt ngắm nhìn nhiều tòa lâu đài nguy nga, tráng lệ, bên tai tôi nghe rõ giọng ngâm từng câu thơ rằng:

Ta mang một túi càn khôn

Chưa truyền hậu thế vội chôn xuống mồ

Ngày đêm ta phải trông chờ

Tâm linh ngời sáng đến giờ trao tay

Bằng không gặp cảnh duyên này

Ta đầu thai lại làm thầy giảng du

Mong người thấu nỗi hiền ngu

Minh tâm kiến tánh cần tu tiên đài

Muốn thành công phải miệt mài

Chuyên tâm tập luyện không nài gian lao

Có duyên mới được truyền trao

Phép mầu không dễ người nào cũng thông

Tài cao nhờ bởi chuyên lòng

Phép linh còn, mất do trong tâm mình

Không vì tài lợi đua tranh

Thị phi chồng chất tâm linh lu mờ

Học cho thấu bến rõ bờ

Không thôi đừng học, ngu ngơ người cười…

Rồi vọng lại tiếng cười đầy an lạc của Đức Thái Thượng Lão Quân làm tôi chợt tỉnh thức. Đại ý bài thơ nói lên nỗi niềm của vị thầy tâm linh đang mong mỏi tìm được hiền nhân để trao gửi những điều vô giá. Xin đặt tên bài này là “Tâm sự của đấng tâm linh.”

Như vậy, trong lúc ngồi thiền tôi gặp duyên lành được Đức Thái Thượng Lão Quân truyền dạy môn KHÍ CÔNG BÍ TRUYỀN này, nên đặt tên là: “KHÍ CÔNG KIM CANG THIỀN” (môn khí công do ông Trần Kim Cang học được trong lúc ngồi thiền). 

II - LỜI TÂM HUYẾT      

Mục tiêu đầu tiên của người tập khí công là để nâng cao sức khỏe; tự chữa bệnh cho bản thân và tiến tới chữa được bệnh cho người khác. Khí công Kim Cang Thiền cũng vậy, tự nó không có tính chiến đấu đối kháng như các môn võ học nhưng lại rất cần sự chiến thắng với chính bản thân người học.    

Có người nói rằng: “Nếu người chưa tốt luyện tập khí công sẽ tốt, người tốt càng tốt đẹp hơn nữa…”  Bắt đầu học khí công, ta nên tìm người có năng lực và nhiều kinh nghiệm khí công vì họ có phương pháp hướng dẫn thích hợp với từng đối tượng để có hiệu quả nhanh chóng. Người mới làm quen với khí công không nên nghe theo lời chỉ dẫn tùy tiện hoặc xem sách mà tự ý tập luyện khí công, nếu không, sẽ rất nguy hại. Cũng không nên chọn các bài tập mà tuổi tác và sức khỏe không phù hợp, hoặc theo đuổi những bài luyện tập ngoài chỉ dẫn của giáo viên, có người quên cả ngày đêm dồn sức luyện tập cho xong mấy bài liên tục rồi cũng không đạt kết quả. Luyện tập khí công cần có sự kiên trì và phải đúng phương pháp mới đạt hiệu quả cao, dù bài giảng có đơn sơ đến mấy ta cũng không thể bỏ qua những chi tiết nhỏ của người chỉ dẫn, nếu một phút luyện tập đúng phương pháp thì đã có một phút kết quả thật tốt đẹp, cả đời luyện tập sai thì kết quả cả đời cũng chẳng được gì mà bản thân sẽ sinh ra nhiều thứ bệnh đau, tinh thần sẽ suy sụp. Thật sai lầm khi đang bệnh nặng mà không lo chạy chữa lại đi khắp nơi để cầu học nhiều sự huyền bí xa xôi, hoặc mới nghe qua lời đồn đại đã bị kích động mà chạy theo các pháp môn không phù hợp. Có được định hướng đúng mới có được dũng khí và quyết tâm cao để vượt qua những khó khăn trên đường đạo đã được cổ nhân chỉ ra: Một là đạo cao hơn trời, ý nói con đường quá cao siêu rất khó đi tới vì năng lực và nhân duyên chưa hợp nên dễ bị hụt hẫng. Hai là đạo rộng hơn biển, cho thấy con đường mênh mông phía trước quá mờ mịt, dễ mất phương hướng, chúng ta sẽ mất nhiều thời gian và công sức luyện tập nhưng cuối cùng chưa thấy tiến bộ. Ba là đạo sâu hơn hố thẳm, hàm ý con đường khổ luyện cần phải có trí tuệ nhận biết đúng hay sai để có kết quả tốt, nếu không sẽ nhận được sự thất bại hoàn toàn. Chúng ta học tập pháp môn nào đi nữa thì trước tiên cũng nên tìm gặp cho được vị minh sư, người ấy có trí huệ sáng suốt, hiểu biết sâu rộng giải bày chân lý tận tường giúp mọi người không lầm đường lạc lối… cũng tỉ như giữa đêm đen tối thêm mưa gió âm u có ngọn đèn với độ sáng thật lớn soi rõ những bước chân cho nhiều người tránh xa chông gai và hố sâu để đi đến nơi về tới chốn.

Tập khí công cơ bản là luyện thở, chỉ hít vào - thở ra, nhưng phải đúng cách, và trong tâm trạng thư thái, khiến các luân xa tự điều chỉnh đúng tốc độ quay của nó. Có thể coi khí công như một món ăn hàng ngày cần thiết cho cơ thể, đồng thời còn là một cách duy nhất để cứu chữa những bệnh nan y cho mình, vì vậy thực hành khí công đến mức “nghiện” luyện tập thì mới có kết quả tốt. Lấy câu “Vạn sự khởi đầu nan” để quyết tâm vượt qua chính mình trong thời kỳ sơ cấp rồi bước sang phần khí công trung cấp là đã hoàn thành nền móng cho các giai đoạn tiếp theo. Nếu luyện tập khí công cao cấp để chứng nghiệm trạng thái hòa nhập của thân và tâm, khám phá bí ẩn vũ trụ, thì đó là một nhân duyên vô giá đền đáp cho những ai bền lòng quyết chí vượt qua những chặng đường đầy cam go, hiểm nguy vốn đã khiến cho nhiều người phải bỏ dở hành trình. Luyện tập khí công càng cao giống như một người chuyên nghiệp điều khiển xe phân khối lớn, ta phải biết giới hạn của máy móc, tay lái, vỏ xe, điều kiện đường sá và thời tiết để có thể lái rất nhanh mà không dẫn đến tự sát, trái lại, nó trở thành cuộc khiêu vũ kỳ diệu. Cho nên không thể sơ suất vì bất cứ lý do nào để có thể xảy ra rủi ro đáng tiếc. Vậy bên cạnh việc tập trung mọi cố gắng vào luyện tập càng nhiều, càng cao bao nhiêu, người ta càng phải tỉnh táo bấy nhiêu và phải nhận biết mọi sự biến động trong cơ thể. Nếu cảm giác thư thái là biểu hiện tốt, nếu thấy khó chịu biểu hiện bất thường hay liên tục thì ngưng luyện tập ngay và cần phải điều chỉnh kịp thời. Tránh hiện tượng bị “tẩu hỏa nhập ma” do tập luyện khí công không đúng phương pháp gây ra.    

Người tu luyện hàng ngày hãy nhớ câu: không nhìn - không nghe - không nói, vì khi nghe, nói và nhìn vào chuyện của người khác sẽ làm tâm rối loạn, tư tưởng phân tán do tiêu phí năng lượng gây ảnh hưởng đến việc học tập. Cổ nhân dạy: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Tu tại gia là tu thân hay tu tinh, tức là phải kiềm chế dâm dục, xa lìa sắc dục. Tu chợ là tu khẩu hay tu khí, phải nói năng đúng lẽ phải, tâm thường vui vẻ, biết nhường nhịn và hòa đồng với mọi người. Tu chùa là tu ý hay tu thần, là xa lìa mọi sự cám dỗ, giữ tâm hồn thanh thản, cầu sự giải thoát… Nhiều người đã nhầm lẫn rằng, huyền năng đến từ bên ngoài nên đã đi tìm học nhiều nơi, thử qua nhiều phương pháp đến cuối đời vẫn chưa đạt ước nguyện. Thực tế, huyền năng như ngọc quí tiềm ẩn trong mỗi người, nhưng do luyện tập chưa đúng cách nên nó không có cơ hội hiển lộ ra ngoài. Nói một cách khác là người ta chưa có đủ phẩm chất để sử dụng nó. Người học tập khí công Kim Cang thiền cũng là làm quen Phật pháp, kinh Dịch, yoga, y học, siêu hình… Phật nói: “Nghi lớn thì ngộ lớn, nghi nhỏ thì ngộ nhỏ, không nghi thì sẽ không ngộ”.

Nhà trường luôn dạy học trò: “Tiên học lễ, hậu học văn” để nhắc người học sinh luôn nhớ đến lễ nghĩa, người phương Đông dù học văn hay võ đều lấy lễ nghĩa làm nền tảng cho việc định hướng học hành, với dân tộc ta nó còn là truyền thống cao thượng mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Khí công cũng vậy, hơn nữa học khí công còn là học cách biến đổi bản thân đến từng tế bào, trong khi đó dạy văn hóa chỉ cần học sinh có trí nhớ và ngoan ngoãn là đủ. Người có lễ nghĩa biết tôn sư trọng đạo, luôn quí trọng mọi người, thương yêu muôn loài chúng sinh, khi tình thương không còn giới hạn và không đòi hỏi sự đền đáp là lúc lòng từ bi nảy nở, điều này đặc biệt giúp luân xa 4 khai mở hoàn hảo. Bởi vì mở luân xa 4 trước tạo cầu nối cho luân xa 1 khai mở theo, tâm linh phát triển và xuất hiện những công năng kỳ diệu. Vì vậy, trước tiên giữ lễ nghĩa với thầy, với bạn và mọi người khác là cách hành xử làm cái tâm mình được gọt giũa và trong sáng để mở lối cho bước sau đó là học tập các công pháp mới dễ dàng. Đây là một trong những điều cốt yếu của mối tương quan chặt chẽ giữa thân và tâm.    

Người luyện tập khí công như gạn lắng nước đục bẩn để lấy được nước trong sạch dùng hằng ngày và cùng nhau chia sẻ những mục tiêu cao cả và thiêng liêng, vì vậy khí công thể hiện tình thương yêu và tính đoàn kết trong cộng đồng với đặc điểm là không phân biệt tôn giáo, tuổi tác, giới tính, địa vị giàu hay nghèo, sang hay hèn.       

T

III - KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHÍ CÔNG

Khí công là một phương pháp rèn luyện cơ thể, chủ yếu là luyện cách thở và dẫn khí qua các luân xa để hấp thụ và hoà hợp khí của vũ trụ vào cơ thể, tạo ra sự cộng hưởng năng lượng, từ đó mà bệnh tật bị đẩy lui và thân thể được cường tráng, tinh thần thêm sáng suốt.

Chữ “khí” ta nói ở đây là một danh từ trừu tượng có tính khái quát cao, nó chỉ một loại vật chất nằm ngoài khả năng nhìn thấy của người bình thường. Các nhà khoa học kết luận rằng khí (prana) không phải là không khí (oxygen), mà là một loại trường năng lượng của các hạt siêu nhỏ có hai tính chất hạt và sóng, vì vậy nó mang năng lượng và thông tin và có khả năng thẩm thấu vào bất kỳ một vật nào. Khí và không khí có quan hệ khăng khít và thiết yếu với con người tới mức gần như không có sự phân biệt, trừ khi cần phải nghiên cứu chuyên sâu. Con người và vũ trụ có mối liên hệ chặt chẽ thông qua khí mà người xưa vẫn nói là “thiên nhân cảm ứng”. Bản chất của khí không biến đổi, nhưng sự thể hiện khác nhau của khí sẽ dẫn tới các đặc điểm khác nhau. Ngày nay các máy móc tối tân đã giúp nghiên cứu kỹ hơn về trường khí của vũ trụ và con người, từ đó có thuật ngữ khí đại vũ trụ và khí tiểu vũ trụ, hay vũ trụ vĩ mô và vũ trụ vi mô cũng là để chỉ cái ở ngoại giới - bên ngoài con người và nội giới - bên trong con người.                              

Khí đại vũ trụ ở khắp bao la vạn hữu gọi là khí thiên nhiên, đặc biệt khi sức nóng của mặt trời (dương) truyền xuống trái đất và khí lạnh từ trái đất (âm) bốc lên, sự giao thoa nhau trong trạng thái xuôi và ngược kim đồng hồ tạo thành dòng xoáy hình số tám nằm ngang. Nó được cổ nhân mô tả trong Hà đồ và Lạc thư. Bản chất của vũ trụ và sự hình thành các trạng thái khác nhau của khí gọi là Bát quái. Loại khí này có tính âm dương, tính thông tin toàn bộ và thẩm thấu, hòa quyện vào sự sống trong thiên nhiên, trong tư tưởng, trong cử chỉ nhịp nhàng, khiêu vũ hoặc múa quyền, v. v...

Khí tiểu vũ trụ là khí ở cơ thể người còn gọi là: nhân điện, trường nhân thể hay năng lượng sinh học... Nó có tính điều khiển, nghĩa là có thể dùng ý thức để điều khiển khí này thành dòng chảy có cường độ khác nhau. Tùy vào năng lực tập trung của mỗi người mà ảnh hưởng đến sự mạnh yếu của trường khí cũng khác nhau. Việc sử dụng trường khí tác động đến một người làm cho sóng não của họ biến đổi; trạng thái tinh thần ổn định; bệnh đau thuyên giảm. Kết quả của việc hợp nhất của hai loại khí đại vũ trụ và tiểu vũ trụ trên chính là mục tiêu mà khí công hướng tới cho dù có khác nhau, thậm chí còn ngược nhau về phương pháp tập luyện.  

Việc hít thở chỉ được người ta chú ý tới trong hai trường hợp, một là khi ta có khó khăn về đường hô hấp; hai là cần tập luyện khí công, yoga, thiền định… Khi đứa bé mới sinh ra, hơi thở đầu tiên của nó là hít vào, đó là tín hiệu của sự sống bắt đầu. Khi người ta lâm chung, tín hiệu của cái chết là thở hắt ra. Nhận thấy sự sống và cái chết hòa quyện vào nhau trong từng hơi thở, nên tiền nhân chú trọng nâng cao tính năng của việc thở sao cho lúc hít vào và thở ra chậm rãi, nhỏ nhẹ, thật dài và đều hơi, trở thành một chu kỳ thật nhuần nhuyễn để cơ thể khỏe mạnh, cuộc sống kéo dài. Tập khí công trước khó sau dễ, tức là chưa quen sẽ quen, chưa được sẽ được, từ đó các luân xa hoạt động tốt hơn, khai mở cao hơn, thu nhận được phần khí tinh khiết nhất của trời đất để bổ trợ cho tinh - khí - thần, làm con người thích nghi mọi biến đổi của thời tiết, giữ đầu óc minh mẫn, tuổi thọ tăng cao, và có những công năng đặc biệt.

Năng lực khí công cao hay thấp là do ý chí, tinh thần và điều kiện luyện tập của mỗi người mà dẫn tới kết quả khác nhau. Mỗi người vận khí ở các cung bậc khác nhau, người đạt tới đỉnh cao được ví như “máy gia tốc nhân thể”. Ngày nay máy móc đo đạc cho thấy nhà khí công thâm hậu có phẩm chất năng lượng vượt trội thì trường sinh học của họ tạo ra “vầng hào quang sức khỏe”, làm bầu không gian tràn đầy sinh khí lan tỏa, người có bệnh hay buồn phiền khi hấp thụ được nguồn năng lượng này sẽ cảm thấy cơ thể khỏe lên, tinh thần phấn chấn, an lành, trạng thái này đưa mỗi người đến khái niệm gọi là khỏe mạnh.

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều trường phái khí công như Nho gia, Đạo gia, Phật gia, Y gia, võ thuật và dân gian, tất cả được chia thành hai phái nội đan và ngoại đan, đang được giảng dạy và luyện tập. Do tính chất của mỗi bài tập mà các phương pháp luyện tập có những tên gọi khác nhau như: Tu đạo, Luyện đan, Thiền định, Huyền công, Tĩnh công, Trường năng lượng, Pháp dưỡng sinh, v.v… nhưng phần luyện tập chuyên sâu có những chỗ như trùng lắp vì càng lên tới đỉnh cao của khí công thì con đường đi theo hình xoáy trôn ốc như càng gần với nhau hơn, nhưng ở đỉnh cao hơn.     

 

IV– TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA THIỀN

Từ thiền của Việt Nam hay zen của Nhật Bản đều được phiên âm từ "ch’an" của Trung Hoa. Những chữ này đều xuất phát từ chữ dhyna, có nguồn gốc ở bộ kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Theo tư tưởng Ấn Độ, muốn hiểu được chân tướng của một sự vật ta phải hòa mình làm một với sự vật đó. Thiền là quá trình tập trung tư tưởng, lặng lẽ suy tư, không để ngoại cảnh chi phối, là quá trình đồng nhất hóa với sự vật để hiểu được bản chất của nó. Sau những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại đã tiến thêm nhiều bước mới, đời sống vật chất không ngừng được nâng lên, đồng thời kéo theo những yếu tố gây căng thẳng thần kinh đã làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, rối loạn nội tiết dẫn đến nhiều chứng bệnh nghiêm trọng. Người ta đã dùng thiền để điều chỉnh lại tình trạng mất cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh do quá trình sinh hoạt và làm việc căng thẳng gây ra. Tác dụng của thiền như một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu, sự hợp nhất giữa thân và tâm của thiền giúp giải quyết những vấn đề do tâm lý gây ra và là phương pháp chữa trị cho nhiều chứng bệnh của xã hội hiện đại, trên bình diện này thì thiền và khí công đã gặp nhau.   

Vượt khỏi ranh giới của tôn giáo, thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận và quảng bá rộng rãi như một hình thức giáo dục đạo đức và tâm linh. Hành thiền không những có thể giải tỏa những cảm xúc âm tính, cải thiện hành vi mà còn giúp tăng cường nội khí, nâng cao sức đề kháng và sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường. Cũng từ đây Tổ chức Y tế Thế giới đã đánh giá lại ý nghĩa của sức khỏe như sau: "Sức khoẻ là sự thoải mái hoàn toàn về các mặt thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật". Có lẽ vì những lý do này, khi chuyển ngữ sang phương Tây, người ta đã dùng từ "meditation" để dịch từ zen. “meditation” có cùng ngữ căn “mederi" với từ "medicine" với hàm ý là một phương pháp chữa bệnh.

 

V- HAI PHÁP KHÍ CÔNG ĐỘNG VÀ KHÍ CÔNG TĨNH

Hiện nay khí công có hơn 8.000 phương pháp luyện tập, tuy nhiên nó đã được phân ra thành hai phái nội đan và ngoại đan, thường gọi là khí công động và khí công tĩnh.

1 - LUYỆN TẬP KHÍ CÔNG ĐỘNG  

Khí công động hay động công, là phương pháp luyện tập hơi thở trong lúc cơ thể đang vận động, tức là phải tập trung tư tưởng vào việc hít thở thật chậm, thật nhẹ, thật dài và đều đặn trong lúc cơ thể vẫn hoạt động bình thường, như lúc đang ăn uống, đi bộ, tập thể dục, múa thái cực quyền, tinh huê quyền hay đang làm các công việc nhẹ nhàng. Người yêu thích luyện tập động công tìm thấy cái tĩnh trong cái động, để có được sự bình thản và sáng suốt trước mọi sự trở ngại, sóng gió cuộc đời.

Muốn luyện tập động công có kết quả tốt hành giả phải phối hợp ba việc: Tư tưởng - hơi thở - động tác mọi lúc mọi nơi thật nhuần nhuyễn. Nghĩa là chúng gắn liền nhau, không được lúc thì quá nhanh hay quá chậm, không để động tác đã quá xa mà hơi thở chưa đến hay hơi thở đã hết mà động tác chưa kết thúc hoặc động tác và hơi thở trái ngược nhau. Những động tác dài hay ngắn, gần hay xa, cao hay thấp, lên hay xuống, hành giả phải biết gắn liền hơi thở và tư tưởng vào trong các động tác đó. Ngày đầu tiên học tập, cần phải tập trung chú ý sự chỉ dẫn của người đi trước, theo sát hướng dẫn của huấn luyện viên, giống như học trò mới tập viết được cô giáo dạy tô đè lên từng chữ cái có sẵn, không để sai sót một nét nào cả.

2 - LUYỆN TẬP KHÍ CÔNG TĨNH  

Khí công tĩnh hay tĩnh công, là phương pháp luyện tập hơi thở trong lúc cơ thể yên lặng, tức là phải tập trung tư tưởng vào việc hít thở thật chậm, nhẹ nhàng, thật dài và đều đặn trong lúc cơ thể không hoạt động như đang yên lặng lắng nghe hoặc đang thiền định. Người ta yêu thích luyện tập tĩnh công là để tìm thấy cái động trong cái tĩnh, tức là khi cơ thể tĩnh lặng họ muốn cảm nhận sự thăng hoa và trí tuệ sáng suốt trong phúc lạc dâng tràn. Từ đặc điểm của môn học mà người luyện tập tĩnh công thường ngày không nên nghe chuyện của người khác và cũng đừng để tâm trí vào những chuyện quá khứ hay tương lai, gạt bỏ mọi âm thanh từ bên ngoài vọng đến cho dù rất nhỏ, luôn có vẻ mặt tươi tỉnh với nụ cười nhẹ bên trong và ánh mắt sáng ngời. Ngay từ đầu người học cần kết hợp ba việc sau đây:

1- Ngồi yên lặng tự nhiên.

2- Hít thở thật chậm, nhẹ, dài và đều hơi. 

3- Để tâm ý vào một chỗ.

Những người buổi đầu luyện tập tĩnh công, trước khi vào trạng thái tĩnh, cơ thể thường có sự chuyển động nhẹ, có lúc rất mạnh hay cảm giác khí chạy lên xuống, đến nơi này qua chỗ kia khắp cơ thể… Dù biết rằng đường dài có nhiều điều thử thách và thời gian cũng không có điểm dừng, nhưng môn sinh có duyên gặp được người thầy tận tình chỉ dẫn và bản thân kiên nhẫn với quyết tâm luyện tập sẽ chắc chắn thành công.

3 - KẾT QUẢ LUYỆN TẬP 

Người chuyên luyện tập động công thì thân thể cường tráng, hăng say hoạt động, luôn mạnh mẽ và tự tin. Người chuyên luyện tập tĩnh công thì tinh thần sáng suốt, năng lực tư duy cao, cốt cách siêu phàm, thoát tục. Người xưa nói: “Trong động có tĩnh, trong tĩnh có động.” Khi động ở mức độ ta không nhìn thấy hoặc hiểu thấu thì ta gọi nó là tĩnh, và ngược lại. Như vậy động và tĩnh không đối lập nhau mà cùng mô tả hai trạng thái khác nhau của một vấn đề, chỉ khác nhau về mức độ. Việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa động công và tĩnh công có tác động tốt đến tất cả các bộ phận trong cơ thể, nó không chỉ làm cho ta có được nội lực mạnh mẽ đẩy lui mọi bệnh tật mà còn hoàn chỉnh về mặt nhân cách thể hiện qua tình thương yêu đồng loại và thân thiện với thiên nhiên. Người luyện tập thành công cả hai pháp động và tĩnh công thì có đủ cả lực - trí - dũng, là điều rất đáng khâm phục.  

Động khí công và tĩnh khí công là hai phương pháp luyện tập có thể nói là hoàn toàn khác nhau, vì thế kết quả trước và sau được thể hiện trong tinh -  khí - thần cũng có chỗ khác biệt như sau:

 

A - Kết quả luyện tập động công. 

1/ Tinh lực: Kết quả luyện tinh của động công là cơ thể  khỏe mạnh, nhanh nhẹn, màu da tươi sáng, dáng vẻ trẻ trung.

2/ Thần lực: Kết quả luyện thần của động công là sáng suốt trước mọi vấn đề, tự tin và bình tĩnh hơn, không còn tính nhút nhát hay lo sợ vu vơ.

3/ Khí lực: Kết quả luyện khí của động công là sức khỏe dồi dào, rất bền sức và hăng say hoạt động không biết mệt mỏi.  

B - Kết quả luyện tập tĩnh công.    

1/ Tinh lực: Kết quả luyện tinh của tĩnh công là thân thể nhẹ nhàng, khỏe mạnh, màu da tươi sáng và dáng vẻ trẻ lại.

2/ Khí lực: Kết quả luyện khí của tĩnh công là không còn tính nóng giận, luôn vui vẻ hòa nhã với mọi người, bệnh đau hầu như tan biến hết.

3 / Thần lực: Kết quả luyện thần của tĩnh công là đầu óc không căng thẳng, lúc nào tâm hồn cũng thanh thản vui tươi, có hiểu biết và khôn khéo, thích tư duy sáng tạo, khám phá điều bí ẩn.

Lưu ý: Theo chiều đứng của thước Tam tài (khung tam giác cân) cho thấy kết quả của động công thì nghịch hướng: từ Tinh lên Thần xuống Khí trở về Tinh, còn kết quả của tĩnh công thì thuận hướng: từ Tinh qua Khí lên Thần xuống Tinh.     

 


 

Hình đồ 1: Tinh – khí – thần chuyển hướng trong động – tĩnh công

 

VI - TINH - KHÍ - THẦN

Khi luyện công, điều đầu tiên là phải duy trì ba “của báu” của thân thể là tinh, khí, thần. Tại sao phải “bế tinh, giữ khí, tồn thần” thì Đông y cho rằng tinh, khí, thần đều là gốc của cuộc sống. Thiên “Bản tạng” (Linh khu 47) viết: “Người ta có các tố chất khí, huyết, tinh, thần, cho nên giữ gìn nó trong cuộc sống là giúp cho sinh mệnh tồn tại”. Chính vì quan niệm như thế nên người xưa rất coi trọng và bảo vệ kỹ lưỡng tinh, khí, thần. Thiên “Thượng cổ thiên chân luận” (Tố vấn 1) viết: “Hô hấp nuôi tinh, độc lập giữ thần” để đạt tới độ “tích tinh, bảo toàn thần”, đều là cách thức giúp cơ thể khỏe mạnh kéo dài tuổi thọ. Tinh, khí, thần có sự tương quan thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau nên thực chất không thể xem xét từng cái theo cách riêng rẽ tách khỏi mối ràng buộc chung của chúng.

1 - TINH LÀ NGUỒN GỐC CỦA SỰ SỐNG

Tinh là thức ăn của thần, có tinh thì mới có thần, vì vậy tích trữ tinh thì có thể bảo toàn thần. Tinh bị tổn thương tất nhiên thần khó giữ vững. Tinh là mẹ của khí. Tinh đã hư thì chẳng còn khí, người mà không có khí thì sinh mệnh tiêu vong. Tinh là cơ sở của cuộc sống, nó được giữ gìn ở tiên thiên như là vật chất khởi nguồn cho sự sống. Thiên “Bản thần” (Linh khu 8) viết: “Gốc gác cuộc sống là nhờ tinh mà ra”. Vạn vật biến đổi, sinh diệt cũng bắt đầu từ tinh, trong đời sống của con người tinh luôn bị tiêu hao nhưng cũng không ngừng được bổ sung để duy trì sinh mệnh. 

a/ Tinh trong xác thân có ba thể sau đây:

- Lỏng: Hành tủy, tinh dịch, máu và  nước.

- Mềm: Mô, cơ, thịt, da và lông.

- Cứng: Xương, gân và móng.

b/ Tinh trong nguồn năng lượng như: Thức ăn, uống là tinh hoa của vạn vật, có đầy đủ chất dinh dưỡng nuôi sống cơ thể.

Người biết kiêng cữ, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh và luyện tập hăng say luôn yêu đời thì đó là kiểu sống khỏe.

2 - KHÍ LÀ ĐỘNG LỰC CỦA SỰ SỐNG

Toàn bộ cơ thể muốn duy trì hoạt động bình thường và phát huy hết khả năng sáng tạo trong lao động, phải nhờ vào nguồn năng lượng do khí nuôi dưỡng và chuyển giao. Nếu không có khí sẽ không có sự tái sinh của tinh, và thần cũng bị tiêu vong. Vai trò của khí trong hậu thiên là để giữ gìn cơ thể khỏe mạnh, người xưa nói: “Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư” cũng là dựa vào đạo lý để luyện tập nhằm kéo dài cuộc sống. Vì vậy để có thể tích tụ và bảo toàn thần, việc đầu tiên phải luyện khí.

Khí có hai loại chính gồm khí bên trong và khí bên ngoài cơ thể:

a/ Khí bên ngoài chia thành ba loại sau đây:

- Độc khí: Khí hóa chất, tanh hôi, ô nhiễm.

- Tạp khí: Khí tự nhiên.

- Thanh khí: Khí trong lành ở môi trường thoáng mát, vệ sinh, sạch sẽ.

b/ Khí trong cơ thể cũng chia ra ba loại sau:

- Chân khí: Như dòng điện do Thủy – Hỏa hòa hợp duy trì sự tồn tại, thể hiện năng lực qua hai cánh quạt âm - dương tức là tinh thần và thể xác. Nó là nguồn năng lượng cơ bản trong con người. Vì thế chân khí còn thì sống, chân khí mất thì chết.

- Dinh khí: Thuộc âm, đi trong mạch, là thành phần vận chuyển nguồn năng lượng nuôi sống cơ thể, ngũ tạng và lục phủ.

- Vệ khí: Thuộc dương, đi ngoài mạch, là lực phóng thích năng lượng xấu và chống tà khí xâm nhập cơ thể.

Luyện tập khí công sẽ thu nhận được phần khí tinh khiết nhất giúp động mạch, tĩnh mạch và mao mạch tăng sức hoạt động, tâm trí minh mẫn, tâm hồn vui tươi  và sức lực dẻo dai như cây tùng, cây bách thì đó là kiểu sống lâu.

3 - THẦN LÀ SẮC THÁI CỦA SỰ SỐNG  

Thần là tinh thần, thần trí, thần thái và là chủ tể mọi hoạt động của sinh mệnh, là phản ứng của công năng các nội tạng, là cơ sở của vật chất do tinh của tiên thiên hóa thành, đồng thời lại cần đến sự nuôi dưỡng hóa sinh của hậu thiên, thành “tinh” để quy trở xuống đan điền và không ngừng được bổ sung tăng tiến. Thần còn thể hiện ý chí vững chắc và quyền lực tối cao với chức năng điều hoà hơi thở, duy trì cơ thể hoạt động, cho nên thần còn là còn sự sống, thần mất là mất sự sống.

Thần có hai loại: Thần khí và thần sắc.

- Thần khí bên trong: Biểu hiện qua hơi thở và lời nói. Hơi thở nhẹ, dài, đều và giọng nói rõ là người khỏe mạnh; hơi thở mệt nhọc, giọng nói yếu ớt là người có bệnh.

- Thần sắc bên ngoài: Biểu hiện qua nét mặt, màu da, vóc dáng và điệu bộ. Nét mặt rạng rỡ, vui tươi, màu da sáng, dáng vẻ nhanh nhẹn là người khoẻ mạnh; nét mặt u buồn, màu da xanh xám, thân thể tiều tụy dáng đi xiêu vẹo là người có bệnh.

Người có thần khí khoẻ, thần sắc tươi sáng tức là tinh - khí - thần sung mãn, đủ tài và lực giúp ích cho mọi người và cống hiến sức lực cho xã hội thì đó là kiểu sống có ích.   

 

VII - LUÂN XA  

1 - KHÁI NIỆM

Luân xa trong yoga, tiếng Phạn là chakra, là những đầu mối thu - phát năng lượng (khí), qua đó nguồn khí đại vũ trụ đổ dồn vào tiểu vụ trụ theo chiều xoáy hình phễu. Người ta đã biết tới luân xa qua hàng ngàn năm nay, nó luôn tồn tại trong cơ thể mọi người, nhưng luân xa hoạt động kém, hoặc chưa được khai thông, vì vậy nó gây cản trở con người hấp thụ nguồn tinh lực đó. Người bình thường không nhìn thấy luân xa, nhưng đối với ai đã dày công tu luyện thì có thể nhìn thấy các luân xa tương tự như bánh xe luôn quay tròn, hoặc trông giống bông hoa sen xòe cánh nhiều màu sắc. Kích thước, tốc độ quay khác nhau của mỗi luân xa mang những thông tin khác nhau và có cả các điều bí ẩn chưa khám phá. Màu sắc sáng hoặc tối của luân xa nói lên lực tâm linh và tình trạng sức khỏe của mỗi người.

Người chuyên tâm luyện tập có thể nhìn thấy tốc độ quay của luân xa tương ứng với cường độ ánh sáng bao phủ quanh người, gọi là “hào quang sức khỏe”, biểu hiện sức khỏe của mỗi người. Còn hào quang trên đầu là vòng “hào quang trí tuệ“ của các nhà thông thái giống như ảnh Phật, Chúa, tiên và các thánh. Trong con người, luân xa khai mở với nhiều mức độ khác nhau, nên năng lực trí tuệ mỗi người cũng khác nhau. Vì vậy, sự hiểu biết của mỗi con người cũng có chỗ giống - khác nhau hoặc hơn - kém nhau là việc bình thường. Mức độ khai mở luân xa tốt và cao phụ thuộc vào các yếu tố như thiên bẩm, dày công tu luyện, tai nạn đột biến, sống trở lại sau nhiều ngày chết lâm sàng, hoặc do lực của nhà khí công tác động vào…

Người luân xa quay ở mức trung bình là người có sức khỏe tốt, không bệnh, làm việc hăng say. Người luyện tập đều đặn luân xa sẽ quay ở mức độ cao hơn trung bình, là người có đầu óc nhạy bén làm việc không biết mệt, quan tâm đến lĩnh vực khoa học. Nếu luân xa khai mở cao hơn nữa thì người có óc sáng tạo và có khả năng đặc biệt. Các luân xa khai mở hoàn hảo người có thần thông quảng đại, trí tuệ siêu việt, là đấng đại giác chí tôn. Ngược lại luân xa khai mở dưới mức trung bình thì màu sắc mờ tối, cơ thể đang mắc bệnh hay rất tồi tệ; luân xa khai mở không bình thường thì màu sắc lộn xộn, trí tuệ kém, mọi sự hoạt động đều kém hiệu quả, tinh thần không ổn định, hay hoang tưởng hoặc đang bị tẩu hỏa nhập ma, v.v…

Trong Khí Công Kim Cang Thiền, tám luân xa của con người gắn liền với bát quái trong Kinh Dịch. Đại vũ trụ có bát quái, tiểu vũ trụ có tám luân xa. Đó là 8 trọng điểm kết nối sự sống con người với trời đất. Bát quái là khí của vũ trụ luôn chuyển động phát triển vạn vật, cân bằng âm dương trong thiên nhiên. Tám luân xa trong cơ thể con người là những trung tâm thu năng lượng vũ trụ giúp cơ thể có sự sống, năng lực sáng tạo và phát huy giúp ích cộng đồng, xã hội... Luân xa của các loài động vật khác thì phát ra màu sắc hào quang rất mỏng và mờ, không cao hay rực rỡ như của con người. Tuy vậy, trong điều kiện môi trường tự nhiên, sự quan hệ giao tiếp thông tin đa chiều nhằm duy trì và bảo vệ sự sống, mỗi loài vật đều phát triển kỹ năng tồn tại đặc biệt, ví dụ như thần giao cách cảm của chúng mạnh hơn cả con người. 

Vị trí tám luân xa phân bố trên con người từ trên đầu và xuống theo cột sống lưng, đều trùng với các đại huyệt theo khoa châm cứu của Đông y. Mỗi Luân xa quản lý một khu vực riêng và một số cơ quan, nội tang trong cơ thể, vì vậy nếu nơi nào có phát sinh bệnh ta sẽ thấy luân xa quản lý nơi đó hoạt động dưới mức bình thường hoặc bị kẹt, làm cản trở sự vận chuyển khí bên trong cơ thể với khí bên ngoài. Vì vậy người xưa dạy: “Thuận cùng khí của trời đất thì sống, nghịch với khí của trời đất sẽ chết.”   

2 - CHỨC NĂNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÁM LUÂN XA    

Các luân xa là một hệ thống tương thuộc, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau nên không thể hoạt động đơn lẻ và rời rạc, vì vậy tác động của luân xa đến thể trạng mỗi người cần có sự đánh giá tổng thể. Việc phân tích và xem xét chi tiết từng luân xa dưới đây chỉ có tính tương đối để cho ta dễ hiểu được những chức năng chính của chúng.

Đối với tinh - khí - thần thì luân xa có vai trò như trợ thủ tuyệt đối trung thành và rất đắc lực. Luân xa khai mở thấp hay cao, tốt hay không đều do tinh - khí - thần điều động. Có thể ví tinh – khi – thần là “ông chủ”, còn các luân xa như người “đầu bếp tài ba”. Nếu ông chủ cần bất kỳ món ăn ngon, thức uống mới lạ nào trên thế giới thì các đầu bếp thiện nghệ của ông luôn sẵn sàng đáp ứng. Như vậy, nếu nỗ lực luyện tập tinh - khí - thần đúng cách, thì các luân xa càng khai mở tốt để giúp tinh –  khí – thần luôn luôn sung mãn, lao động sáng tạo hiệu quả và huyền năng hé mở. Ngược lại, nếu luân xa chỉ hoạt động theo bản năng, thì tinh - khí - thần của một con người cũng chỉ bình thường, không có điều gì đặc biệt.   

Có trường hợp nhiều người rơi vào hoàn cảnh khó khăn và túng quẫn, chỉ liên tục xoay xở, thậm chí giành giật với mọi người vì cuộc sống riêng tư, không biết tới tâm linh, thậm chí không nhớ đến tổ tiên… Bất chợt chỉ trong một phút giây vô tình tâm trí của họ nghĩ đến điều phúc thiện, hoặc buông bỏ tất cả sự vướn bận để tâm an định trong một khoảnh khắc thì các luân xa kinh dương (8 - 7 - 4 - 1) cùng khai mở tốt, bản tánh người ấy tự nhiên thay đổi rất nhanh, từ người hung dữ, ngang ngược nay lại rất hiền lành, có nghĩa cử cao đẹp, trí huệ sáng suốt... Khi nhóm luân xa kinh dương khai mở cao hơn nữa thì họ hay ớng về những nơi linh thiêng, bản thân xuất hiện trạng thái đồng cốt, có khả năng chữa lành bệnh cho nhiều người, thích ăn chay, hay làm công việc từ thiện và thích khám phá sự bí ẩn, v.v... Lúc này, họ cần phải bình tĩnh tìm đến chuyên gia tâm lý hoặc các nhà thông thái để lắng nghe điều giải thích thấu đáo với những lời khuyên đúng. Từ đó họ sẽ hướng theo chiều hướng có ích cho bản thân và mọi người, nếu không thì những khả năng mới xuất hiện ban đầu sẽ bị thui chột và dẫn đến các hành động sai trái.

Trong cuộc sống, nếu có những chuyện không may, những điều không tốt xảy ra, dù to hay nhỏ thì chúng ta phải bình tĩnh tâm niệm rằng, đó chỉ là sự thử thách… hãy áp dụng nụ cười nhẹ bên trong và dùng chữ nhẫn để hóa giải thì tâm hồn nhẹ nhàng, thanh thản, các luân xa sẽ khai mở cao hơn. Khi tu luyện gần đạt đến đích, ai cũng phải trải qua thử thách khốc liệt cản trở bước tiến, đó là thử thách cuối cùng nhằm nhắc nhở mỗi người phải luôn gìn giữ phẩm chất trong sạch trong lời nói và ý nghĩ để xứng đáng với phẩm chất cao đẹp. Qua luyện tập tự thấy mình ăn ít, ngủ ít hơn mà vẫn sung sức, tâm không tham lam, buồn phiền, tính không hờn giận, cố chấp, ích kỷ, tài đức trí tuệ hơn người, luôn thương yêu mọi người và muôn loài chúng sinh là sự thể hiện tám luân xa khai mở hoàn hảo.    

Quá trình khai mở hoàn hảo tám luân xa gọi là “tám bậc đến siêu thức”, như tám ngọn đuốc thiêng sáng lên trong đêm tối giúp ta nhìn thấy lại chính mình, tức là nhìn thấy bản thể của mình rõ ràng trên bình diện cả vũ trụ. Mỗi luân xa khai mở mang một danh tính riêng như: động khí, thăng khí, hoà khí, hoả khí, nhu khí, ty khí, thanh khí và sắc khí. Mỗi danh tính nói lên sự biến đổi tế vi từ thể xác lẫn tâm hồn và chỉ có người luyện tập thành công mới cảm nhận được tất cả ý nghĩa của sự biến đổi đó.  

Luân xa 1: Có 04 vòng quay, phát ánh sáng màu cam bao bọc thân thể, là vòng hào quang thứ nhất (tính từ thân người ra). Nó có chức năng quản lý điều hành dạ dày, mông bên phải, xương chậu bên phải, chân bên phải, hậu môn, bộ phận sinh dục nữ và môi miệng... Khi luân xa 1 hoạt động không bình thường làm dòng năng lượng bị kẹt thì các bộ phận nêu trên dễ bị đau yếu.    

Luân xa 1 là nơi biểu hiện sức mạnh và sinh khí về mặt thể chất của một người, vì vậy nó còn là trung tâm chi phối cảm xúc về thể chất. Nếu luân xa 1 bị trở ngại, hoạt động không thoải mái làm cho các luân xa kinh dương hoạt động không thông suốt thì tinh thần con người không ổn định, có những hành động thiếu nghĩ suy, hay lo buồn vẩn vơ, cô đơn, ăn ngủ không ngon giấc. Những người bẩm sinh có luân xa 1 khai mở cao thì sớm phát triển những năng khiếu đặc biệt, có căn tu hành từ bé, có phần căn điển linh đồng cốt, say mê văn học, nghệ thuật, ham thích nghiên cứu khoa học và có tính hay hài hước. Người luyện tập các môn gần gũi với động khí công như tham gia các loại hình nghệ thuật như múa hát, vũ điệu dân gian, khiêu vũ nghệ thuật, thể dục nhịp điệu, thể hình và các môn giải trí có nhiều tính bổ ích khác sẽ giúp cho luân xa 1 có điều kiện khai mở tốt. Luân xa 1 khai mở trung bình khi đó ta cảm giác cơ thể có một sức mạnh khác thường, tay chân cứng chắc, ăn ngủ ít mà tinh thần vẫn sảng khoái và sáng suốt, trong giao tiếp được nhiều người chú ý, ái mộ, lúc ngủ có khi mơ thấy các hoạt động liên quan con trâu, hoặc các loài cầm thú khác. Người có luân xa 1 khai mở cao là người cái thế. Người dày công tu luyện trọn đời thì luân xa 1 sẽ khai mở hoàn hảo tâm linh thăng hoa vượt trên mọi kỳ nhân khác.   

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 1 mang tên “Động khí”, vì nơi này khí luôn có sự chuyển động. Đây chính là nơi sức sống hiện diện, vai trò của nó được coi như bộ rễ cây duy trì phát triển của thân, lá, hoa. Người tập luyện sao cho có cảm giác được động khí, vì đó là dấu hiệu tiến bộ đầu tiên và cũng là động lực duy nhất giúp ta hướng tới chân lý. Công việc này không chỉ đòi hỏi sự dũng cảm của bản thân, mà phải có cả sự dìu dắt tận tình của bậc chân sư đã từng trải.      

Những người luyện tập yoga, tĩnh công, thiền định lâu ngày, tại luân xa 1 có sự rung chuyển co giật với nhiều biểu hiện khác nhau như ngứa ngáy, có kim châm chích, cảm giác có con gì đang chui vào, có khi phát ra tiếng kêu nhưng không phải là trung tiện, có trường hợp bị ảo giác dương cụ đang cương nở dần ra đến biến dạng khiến ta phải giật mình, lúc đang tỉnh táo không hề nghĩ đến tình dục mà bỗng nhiên sinh ra cơn thèm khát dâm dục rất khó chịu. Tất cả những điều đó chứng tỏ luân xa 1 đang khai mở tốt, mở cao hơn nữa thì trong những giấc ngủ ta thường mơ thấy nhiều cô gái xinh đẹp khỏa thân múa hát, thấy ân ái tận hưởng dục lạc. Nhưng phải lưu ý rằng dù mơ đến thế nào thì khi tỉnh dậy không thấy xuất tinh mới đúng là luân xa 1 đang khai mở cao. Đó là điều đáng quí, bởi vì việc tinh trùng đi ra là để sinh ra một con người, còn việc ngược lại là để sinh ra chính mình. Sau những lần mơ như vậy mọi bệnh trong người tan biến, sự trẻ trung trở lại gọi là “cải lão hoàn đồng”. Người luyện luân xa 1 lâu ngày hay gặp phải thử thách bất ngờ, có những biến cố như bị chết đi rồi sống lại, hoặc tự nhiên bị kẻ xấu hăm dọa chém giết, đánh chửi, nhục mạ, có khi bị quấy rối tình dục… Đó là lúc cần tỉnh táo nhất để vượt qua, nhiều người đã thất bại vì rơi vào cảnh “nợ trần chưa dứt, đường tu lỡ làng”.     

Cổ nhân cho rằng luân xa 1 mở cao là vào “cửa thành cổ” của thế giới tâm linh siêu hình, bên trong cất giấu những tiềm năng kỳ diệu của con người. Nhưng trước đó luân xa 1 là cạm bẫy tiềm ẩn một khối khí nóng, nếu được kích họat khí bốc lên cao theo cột sống rất nguy hiểm như đánh thức con rắn độc nên người xưa gọi là “hỏa xà”, “kundalini”. Người tu luyện kém hiểu biết chỉ vì sự tò mò hoặc lòng tham mà cứ tìm cách khai mở luân xa 1 trước thì luồng hỏa xà sẽ đốt cháy hết những thành quả bao năm luyện tập và còn biến họ thành thân tàn ma dại. Muốn vượt qua những trở ngại trên hành giả cần tập luyện khai mở luân xa 4 trước tạo điều kiện cùng lúc luân xa 1 sẽ khai mở tự nhiên một cách an toàn.  

Luân xa 2: Có 06 vòng quay, phát ra ánh sáng màu vàng bao bọc thân thể, là vòng hào quang thứ hai. Nó có chức năng quản lý điều hành lá lách, các cơ, bắp thịt, nửa thân dưới bên trái, vùng hông bên trái, chân bên trái, mông bên trái, xương chậu trái, bộ phận sinh dục nam và môi miệng.  

Luân xa 2 kết hợp với luân xa 1 để xác định năng lực dục trong cơ thể và phẩm chất tình yêu. Những người bẩm sinh có luân xa 2 khai mở cao thì có chí khí lớn, tướng mạo thanh tú, có năng khiếu thể thao, nghĩa cử cao đẹp, hấp dẫn người khác giới và được nhiều người hâm mộ. Luân xa 2 hoạt động kém thì cơ thể gầy yếu, chán nản mọi điều... Khi luân xa 2 hoạt động tốt thì cảm thấy sung sức, làm việc không mệt mỏi, ăn ngủ tốt, luôn hoạt bát, lạc quan yêu đời, không gặp ác mộng và hay mơ thấy những cuộc vui hấp dẫn và kỳ lạ. Người có luân xa 2 khai mở cao có sức mạnh vô địch. Người có luân xa 2 khai mở hoàn hảo là đấng hùng anh, vị tướng tài ba, văn võ song toàn rạng danh thơm khắp thiên hạ…   

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 2 mang tên “Thăng khí”, vì nơi này khí thường bốc lên. Luân xa 2 biểu hiện sự khai mở là cơ thể thường đổ ra nhiều mồ hôi, có lúc ướt đẫm toàn thân. Khi luân xa 2 khai mở cao thì cơ thể chuyển động và có cảm giác khí đang di động bên trong cơ thể. Trong những buổi luyện tập, tự nhiên ta thấy thân thể xuất hiện những cảm giác ngoài ý muốn như ngứa ngáy rất khó chịu, một vài cử động như người quay vòng, đầu lắc, múa tay chân, rung giật cả người hoặc cười, khóc, la, đó là những trạng thái động trong vô thức (động trong tịnh). Đó cũng là những biểu hiện thành công bước đầu luyện tập, vì quá trình khí khai thông kinh lạc và các huyệt đạo tạo ra các chuyển động trên. Các trạng thái này sớm mất đi và sẽ xuất hiện cảm giác khác như khí từ luân xa 2 chạy rần rần trong cột sống lên thẳng luân xa 5, hoặc cơ thể phát ra hơi nóng như lửa và gom lại to bằng quả bưởi chạy lên - xuống, ra - vào đầu, ngực, bụng, tay và chân, hoặc cảm giác trên cột sống lưng khí đang nổi u, nổi cục như sỏi đá, lúc này hành giả tập trung tư tưởng điều khí sẽ thấy bắp thịt đặc biệt nổi lên và chạy lên xuống cuồn cuộn hai bên sống lưng, v.v…     

Nếu hành giả luyện tập cơ thể yên lặng và tịnh tâm thật lâu ở trong tư thế đứng, ngồi hoặc nằm thì luân xa 2 sẽ khai mở cao hơn, lúc đó mọi cảm giác và những hiện tượng như trên không còn nữa mà thay vào đó là cảm giác thanh thoát như đang bay lên, bệnh đau đã tan biến, khí sắc tươi sáng, công lực rất mạnh mẽ, mọi hoạt động nhanh lẹ và không mệt mỏi, những giấc mộng rất linh ứng với đời thường. Luân xa 2 khai mở càng cao giúp não bộ tư duy nhạy bén, phát huy khả năng sáng tạo trong công việc, làm việc đạt hiệu quả cao. Những người tài trí cao và thành đạt sớm hầu hết do tác động của luân xa 2.  

Luân xa 3: Có 10 vòng quay, phát ra màu đen bóng loáng, óng ánh bao bọc thân thể, là vòng hào quang thứ ba. Nó có chức năng quản lý điều hành thận, bàng quang, tinh tủy, các chất dịch và máu, nửa thân dưới bên phải, vùng hông bên phải, xương và khớp. 

Luân xa 3 chi phối cảm xúc cá nhân liên quan đến những nhận biết sơ bộ về thế giới tâm linh. Những người bẩm sinh có luân xa 3 khai mở cao thì cơ thể miễn dịch hoàn toàn, không hề có bệnh, tuổi thọ rất cao, rất năng động, sức khỏe dẻo dai và minh mẫn. Nếu luân xa 3 của thai nhi hoạt động không bình thường thì bị dị tật bẩm sinh, vì luân xa 1 và 2 đều là thổ, luân xa 3 là nước và cùng ngôi tinh, việc phối hợp ba luân xa này giống như kết hợp đất và nước để tạo ra một tác phẩm gốm, mà thiếu nước thì sản phẩm kém chất lượng. Người có luân xa 3 hoạt động quá suy yếu cơ thể dễ bị bệnh, mắc các chứng nan y, thai sản trục trặc hoặc vô sinh. Luân xa 3 hoạt động không bình thường thì người có tính bạo dâm hay tham dâm dục. Người luyện tập mở luân xa 3 tốt có sức khỏe cả về thể chất và tinh thần, khi ngủ hay mơ thấy tắm biển, đi thuyền, đi hay ngồi trên mặt nước, bay qua sông lớn hoặc biển cả… Người tu luyện luân xa 3 khai mở hoàn hảo thì chứng pháp Túc mạng thông: biết chuyện các đời trước của mình, biết luôn cả đời nầy và những đời sau.   

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 3 mang tên “Hỏa khí”, vì nơi này có hơi cực nóng phát ra. Nhưng hơi nóng không phát ra ngay từ luân xa 3 mà nó phát ra từ vùng đối chiếu là hạ Đan điền. Hành giả thường thực hành pháp “Ý thủ Đan điền” sẽ thấy hạ Đan điền phát ra hơi nóng, tỏa ra khắp lục phủ, ngũ tạng, làm thân thể càng thuần khiết và tỏa ra mùi hương rất lạ.   

Xưa kia có các bậc đại thiền sư chuyên trì giới hạnh thanh tịnh, tu luyện theo pháp Ý thủ Đan điền… khi nhân duyên đầy đủ đến lúc viên tịch thân xác trở thành “thân kim cương bất hoại”. Trải qua thời gian rất dài mà xác thân vẫn còn nguyên vẹn không bị hư hoại. Môn khí công Kim Cang Thiền giải thích hiện tượng này do luân xa 8 thuộc Chấn là điện sấm chớp, vùng đối chiếu của luân xa 3 tại hạ Đan điền thuộc Khảm là nước, khi dùng ý dẫn khí từ luân xa 8 quán chiếu xuống hạ Đan điền, giống như đem nguồn điện cực mạnh đặt vào trong thùng nước, làm nước sôi và bốc hơi nóng lên. Người luyện tập cảm giác sức nóng đó rất mãnh liệt, lan ra khắp cơ thể như đang thiêu đốt ruột gan. Tập được như thế là thành công rất cao, lúc này cần bình tĩnh tìm cách tự hóa giải sức nóng thành quyền năng siêu phàm, nếu không thì đầu óc sẽ quay cuồng, tinh thần hỗn loạn, tẩu hỏa nhập ma. Còn các đại thiền sư xưa kia quyết tâm luyện tập cứ để sức nóng mãnh liệt đó bốc cao đến phút cuối cùng, khiến cho cơ thể bốc hơi rất nhanh, máu huyết, chất dịch và các lớp mỡ bị khô kiệt, thậm chí nung chín cả cơ thể. Điều rất đặc biệt chỉ có ở người tu luyện pháp này khi đến lúc viên tịch thì xác thân tỏa ra mùi hương thơm chưa từng thấy mà thân xác vẫn còn nguyên vẹn trong trạng thái khô cứng, không thể bị tan rã. Tại thời điểm viên tịch các thiền sư không thể truyền lại kinh nghiệm của mình cho người sau biết được (xem bài “Hỏa luân châu” ở phần cao cấp để biết thêm cách luyện tập pháp này).  

Lứu ý: Khi luân xa 2 khai mở cao có hơi nóng như cục lửa và chạy lên – xuống, ra – vào khắp cơ thể, còn luân xa 3 khai mở cao có sức nóng như hơi nước nóng và chỉ bốc lên từ hạ Đan điền.     

Luân xa 4: Có 12 vòng quay, phát ra ánh sáng màu đỏ bao bọc thân thể là vòng hào quang thứ tư. Nó có chức năng quản lý điều hành tim mạch, tâm bào, ruột non, lưỡi, vùng giữa ngực, bụng trên, cột sống lưng từ huyệt Thần đạo xuống đến huyệt Hội âm, hai mông và cả hai chân.         

Luân xa 4 là trung tâm tình cảm của con người, những người bẩm sinh có luân xa 4 khai mở cao thì từ bé đã có tính hay đa cảm, trọng lễ nghĩa, thủy chung, có lòng hiếu kính, từ bi bác ái với đồng loại và muôn loài. Nếu người có luân xa 4 hoạt động không bình thường thì thể xác và tinh thần không ổn định, rối loạn cảm xúc. Luân xa 4 khai mở tốt làm người ta thay đổi trong nội tâm, từ bản tính nóng giận, hung dữ, ích kỷ, độc ác hóa ra tính hòa thuận, hiền lương, nhân đức, từ kẻ lười nhác, kiêu ngạo, thành người thích lắng nghe, học hỏi, trong giấc ngủ hay mơ thấy ca, múa và lễ hội, v.v… Đặc biệt, khi luân xa 4 khai mở cao có cảm giác niềm vui vô hạn trong lòng, mà không phải vì lý do hoặc tác động nào từ bên ngoài. Tu luyện luân xa 4 khai mở hoàn hảo liền chứng pháp Tha tâm thông: đoán biết trong tâm người khác, gần sông biết tính cá, gần núi hiểu tiếng chim (cận thủy tri ngư tính; cận sơn thức điểu âm).  

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 4 mang tên “Hòa khí”, có ý nghĩa là hành giả luyện tập luôn giữ tâm trong sáng và hoà đồng với mọi người. Người có tính hòa khí thì huệ tâm khai mở, đi đến nơi nào cũng được nhiều người quí mến và cầm thú đều tỏ vẻ muốn gần gũi...  

Muốn luân xa 4 khai mở cao phải gạt bỏ tính tham lam, nóng giận, mê muội, ích kỷ, cố chấp, độc ác, thay vào đó là luôn giữ nụ cười nhẹ trên môi, nét mặt với ánh mắt ngời sáng đầy thiện cảm, lời lẽ từ tốn, chan chứa tình thương yêu với chúng sinh và thiên nhiên. Từ đó tâm hồn con người trở nên cao thượng, biết nhẫn nhục, hỷ xả, có lòng từ bi và phát tâm bố thí vô điều kiện. Chính những đức tính cao cả vô biên đó, là chiếc chìa khoá hóa giải đầy quyền năng dùng khai mở luân xa 1 hoàn hảo.    

Luân xa 5: Có 16 vòng quay, phát ra ánh sáng màu trắng như sữa bao bọc thân thể, là vòng hào quang thứ năm. Nó có chức năng quản lý điều hành phổi bên trái, cổ gáy bên trái, vùng ngực lưng sườn bên trái, vai và cánh tay bên trái, nửa thân trên bên trái, vú bên trái, ruột già (đại tràng).  

Luân xa 5 điều hành khả năng nghe - nói, nghe rõ do thận tốt, nói to tiếng và dài hơi do phế tốt, và xác lập vai trò vị trí của cá thể trong cộng đồng, đại diện cho tính tự tin của người trưởng thành. Những người bẩm sinh có luân xa 5 khai mở cao như được trời phú cho giọng ca truyền cảm, lời nói thuyết phục, năng khiếu hùng biện, tác phong nhạy bén và giỏi lý luận. Luân xa 5 hoạt động không bình thường thì con người nhu nhược, né tránh tiếp xúc vì luôn có mặc cảm tự ti. Luân xa 5 khai mở trung bình thì người có sức khỏe tốt, ăn nói lưu loát, trong giấc ngủ rất ít mơ, hoặc chỉ mơ thấy công việc hay học tập. Khi luân xa 5 khai mở cao thì cơ thể phát ra hào quang. Khi luân xa 5 khai mở cao hơn nữa thì cơ thể hòa hợp với thiên nhiên bệnh đau không đến, cảm giác cơ thể nhẹ nhàng, thanh thản, hơi thở êm dịu giống như đang ngồi trên tòa tháp cao thưởng thức gió thu nhẹ thổi, trong cổ họng luôn có vị ngọt và mát của nước cam lồ, tinh thần sảng khoái, tâm hồn tràn đầy phúc lạc, nên thường muốn truyền đạt hay thuyết giảng những hiểu biết của mình về chân lý, những điều kỳ diệu đã trải nghiệm và ghi nhận trong trạng thái đặc biệt lúc luyện tập đã thành công. Khi luân xa 5 khai mở cao hoàn hảo tâm tính cốt cách siêu phàm thoát tục, có nhiều pháp thần thông và những quyền năng mầu nhiệm sẵn lòng cứu nhân giúp đời… chứng quả vị Thần tiên vào hàng thượng giới.   

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 5 mang tên “Nhu khí”, có ý nghĩa là người luyện tập phải lấy sự nhẫn nhục làm trọng, luôn biểu hiện tính bình tĩnh, chậm rãi, nhẹ nhàng và mềm mại. Việc tập luyện luân xa 5 khai mở cao là một trở ngại lớn hơn đối với ai còn tính tham lam, nóng giận, ích kỷ và cố chấp… vì nó đòi hỏi người ta sự kiềm chế khi gặp mọi điều xảy ra với mình. Đặc biệt khi luân xa 5 khai mở cao, họ phải đối diện với các chuyện xảy ra như có người bôi xấu danh tiếng, bày trò so tài cao thấp, hay bị kẻ tiểu nhân gây ra chuyện thị phi, đặt điều gian xảo làm mất danh phẩm, v.v... Hãy xem đó là những thử thách mà người tu luyện cần bỏ qua để gặt hái kết quả tốt đẹp hơn.

Người tu luyện luân xa 5 cần tập sao cho hơi thở thật chậm, thật nhẹ và thật đều. Nếu đặt sợi tóc trước lỗ mũi và hít thở mà không lay động thì mới thành công. Khi đó chỉ còn cảm nhận sự tĩnh lặng đến mức tuyệt đối, đó cũng là lúc tinh - khí - thần trong cơ thể hoà nhập cùng với khí vũ trụ bên  ngoài gọi là “thiên nhân hợp nhất khí”, cơ thể lúc này như ngôi nhà trống tạo điều kiện cho năng lượng giao hòa nên thích nghi với mọi hoàn cảnh khắc nghiệt về thời tiết và môi trường, làm tăng khả năng linh cảm đến mức khi nghĩ đến người thân sẽ biết hiện giờ họ gặp phải điều gì, lành hay dữ hoặc người hiện ở kề bên mình đang mắc chứng bệnh gì, đau nhức tại đâu, từ đó nói ra lời chẩn đoán bệnh rất chính xác. 

Luân xa 6: Có 800 vòng quay, phát ra ánh sáng màu trắng trong như Pha lê bao bọc thân thể, là vòng hào quang thứ sáu. Nó có chức năng quản lý điều hành sự tập trung ý thức, vùng đại - tiểu não, hai bán cầu não trái - phải, hai mắt, vỏ não, răng - hàm - mặt, tai - mũi - họng, các xoang, cổ gáy bên phải, phổi bên phải, vùng ngực lưng sườn bên phải, vai và cánh tay bên phải, nửa thân trên bên phải, vú bên phải, da, tóc, râu và lông.  

Luân xa 6 là trung tâm đại diện cho ý chí và hiểu biết của con người bằng hình ảnh về thực tại và về vũ trụ. Những người bẩm sinh có luân xa 6 khai mở cao thì chỉ số thông minh cao, từ nhỏ đã khôn khéo, ý tứ, ứng xử nhanh và rất hay, hoặc là thần đồng, thiên tài, có những trẻ em từ 3 - 12 tuổi xuất hiện khả năng thần giao cách cảm (đồng tử hay linh đồng), khi những đứa trẻ này có tính tham lam, tranh đua hay bộ phận sinh dục phát triển sớm thì khả năng linh ứng kém dần hoặc không còn nữa. Khi Luân xa 6 khai mở trung bình thì người có thị lực tốt, thính giác cao, lúc ngủ hay mơ bay lên không trung, đứng trên mây, thấy màu sắc cầu vòng, chư Phật, Bồ tát, thần tiên hoặc các vong linh... Luân xa 6 khai mở cao người ta có trực giác rất tốt, có nhiều sáng tạo mới lạ, có đầu óc thẩm mỹ và năng động, kết hợp thành công giữa ý chí và hành động thực tiễn. Khi luân xa 6 khai mở cao hơn nữa thì có huệ nhãn, khả năng khám phá sự bí ẩn, có năng lực thu hút tinh thần người khác, đặc biệt có khả năng nghe và nói được tiếng lạ (tiếng âm), chuyển những thông tin cần thiết của người cõi âm đến người cõi dương. Người có luân xa 6 khai mở hoàn hảo chứng pháp Thần túc thông: phép đi khắp nơi trong nháy mắt, có phép biến hóa thần kỳ muốn như thế nào tùy ý.       

Người to cao khỏe mạnh nhưng luân xa 6 hoạt động không bình thường thì làm việc kém hiệu quả do suy nghĩ và hành động lộn xộn, rời rạc, ham thích điều dị đoan. Nếu cả hai luân xa 6 và 8 hoạt động quá kém thì người dễ mắc bệnh tâm thần, có người bị rất nặng, nếu có phước duyên gặp được thầy giỏi, thuốc hay, các điển linh cứu nhân độ thế, thì may ra nghiệp chướng sẽ được hóa giải. Nếu người có luân xa 6 và 4 hoạt động không bình thường thì tâm trí mê muội, cuồng tín và hay sợ ma quỉ. Người ta sợ ma quỉ vì không hiểu thấu ý nghĩa cuộc sống tâm linh của thế giới vô hình, nên bản thân phải đi cầu thần linh phù hộ hay tìm các vật linh để trấn giữ cho. Điều này rất dễ nhận biết, như giữa trời nắng gắt mà có người mặc nhiều áo ấm và trùm kín cả người bằng chăn bông hay áo đi mưa, là vì người ấy sợ gió lạnh nhập vào cơ thể, cũng như người sợ ma quỉ thì bản thân có đeo mang và cửa nhà có treo dán bùa phép… Trong thế giới vô hình có các vong linh tốt và có vong linh xấu. Nếu mỗi cá nhân trong gia đình hiểu biết lẽ phải, làm việc phúc thiện, giữ đạo đức trong sáng thì sẽ có các vong linh tốt thường đến phò trợ chúng ta, vì vậy gia đình của chúng ta không lo ngại có ma quỷ đến phá hại. Ngược lại, người vô đạo đức, bất hiếu, vô lương, vô phép, vô lễ nghĩa, ngang tàng, hổn láo, quậy phá láng giềng, gây náo loạn xã hội… thì có dùng bùa phép dán kín các cửa hoặc chất đầy cả nhà cũng vô ích. Có nhiều điều cần làm để kêu gọi sự phò trợ của các vong linh thiện lương trong cõi âm, thường ngày ngoài việc giữ nghi lễ đối với cao huyền, ông bà, cha mẹ, mỗi khi ăn uống chúng ta nên “thành tâm” kính mời các phần âm cùng dùng cơm, uống nước, hoặc ăn bánh, trái cây. v.v... Sau một thời gian việc làm này trở nên có ý thức từ nội tâm tạo ra sự liên thông tâm linh giữa hai cõi Âm – Dương. Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: Hãy sống hoà hợp và đối xử với người cõi âm như tình nghĩa láng giềng, rất thân thiện cho linh hồn của họ luôn được ấm áp và dễ dàng cảm thông khi ta cần đến sự cứu giúp… điều đó còn có thể giúp cho luân xa 6 của ta khai mở tốt hơn và đặc biệt nhanh hơn.       

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 6 mang tên “Ty khí”, biểu hiện đức tính kiên nhẫn, bền bỉ, tĩnh lặng, sáng trong và sâu sắc. Luyện tập Ty khí là luyện hơi thở thật nhỏ, thật dài và mềm mại như sợi tơ. Người xưa gọi Ty khí là “kim quang tuyến”, có sắc màu vàng óng ánh sáng chói. Đây cũng là sợi dây liên lạc tâm linh giữa thế giới hữu hình và vô hình. Đạo sĩ Kim Kang Ta cho biết:  

Ánh chiều thoi thóp thở

Cội thông già đơn côi

Hồn ngao du tiên cảnh

Chỉ vàng tiếp nối bước

Xác ngồi đây đợi chờ

Tâm mang về hương lạ

Giúp mọi người an vui...

Đại ý, khi hơi thở người luyện công rất nhẹ nhàng như ánh chiều gần tắt hay tưởng chừng như không thở, nhưng thân thể lại như gốc thông già to khỏe ngồi một mình rất vững chắc, tất cả hoàn toàn vắng lặng không còn một sự vướng bận nào, lúc này phần hồn sẽ xuất ra khỏi xác thân đi ngao du nơi tiên cảnh. Phía sau đã có sợi chỉ vàng còn gọi là kim quang tuyến kết nối giữa thân xác và linh hồn, nên dù linh hồn có đi xa và lâu đến bao nhiêu nữa thì cứ theo dây chỉ vàng mà quay về với xác thân, nếu xác thân chưa bị hư hoại. Cũng như khi ta ngủ, nằm chiêm bao, là phần hồn xuất ra khỏi thể xác đi đó đi đây nhưng vẫn luôn luôn nối với thể xác bằng sợi dây này. Khi có tiếng động mạnh, thể xác cảm nhận được, liền dùng sợi dây này kéo hồn trở về nhập vào xác và liền đó ta giựt mình thức dậy. Các vị đạo sĩ thường hay nhập thất hoặc vào núi rừng tìm nơi thật vắng vẻ luyện công để bảo vệ sợi chỉ vàng không bị đứt do sốc đột ngột bởi người khác gây ra. Người tu luyện Ty khí thành công, năng lực tâm linh như một thần dược có hương thơm diệu kỳ giúp mọi người được khỏe mạnh, tâm trí yên vui, thoát khỏi mê lầm.   

Luyện tập Ty khí kết hợp tập trung tư tưởng cao độ vào huyệt ngạch trung là vùng đối chiếu của luân xa 6 tác động lên tuyến yên và tuyến tùng quả, giúp cơ thể dồi dào năng lượng tinh khiết, tâm linh thăng hoa đến đỉnh điểm, có những khả năng siêu phàm, trí não minh mẫn, nghe rõ, mắt sáng và tạo điều kiện khai mở huệ nhãn, làm não nhận biết những linh ảnh khác nhau cũng gần giống như việc nhìn thấy bằng mắt thường.   

Luân xa 7: Có 1.000 vòng quay, phát ra ánh sáng màu lục sáng bao bọc thân thể, là vòng hào quang thứ bảy. Nó có chức năng quản lý điều hành và quyết định xử lý mọi tín hiệu về hệ thần kinh, đầu não, cột sống cổ và lưng, tay chân, các bộ phận cơ thể, các cơ quan tạng phủ, v.v...

Luân xa 7 là trung tâm tri giác và hiểu biết, nó là nơi hợp nhất giữa vật chất và tâm linh. Những người bẩm sinh có luân xa 7 khai mở cao là người có năng lực tâm linh, ít nói và thích lắng nghe, tính tình trầm lắng, gan dạ, là nhà lãnh đạo tài giỏi, dễ thu phục nhân tâm. Một người có luân xa 7 kém hoạt động thì không chỉ thiếu năng lượng điều hành cơ thể mà khả năng liên kết trong con người về thể chất lẫn tinh thần và tâm linh cũng không có. Đêm ngủ hay mộng du hoặc có nhiều giấc mơ kỳ quái, khi tỉnh dậy thì trong đầu không còn nhớ một điều gì. Những người luân xa 7 hoạt động không bình thường thì rất say mê đồng bóng bỏ hết việc nhà cửa, hoặc giả danh đồng cốt cầu thần nhập xác để mê hoặc người khác, hoặc sử dụng năng lực tâm linh (phù chú) sai đạo đức, v.v… Đó là những việc làm của người không hiểu biết đạo lý, không nhìn thấy chính mình.  Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: “Người không biết mình là ai hay làm những điều bất chánh mà cho là đúng, là cao siêu, thường bày ra những điều gian dối lừa gạt mọi người mà lại cho mình làm việc phúc thiện, có công giúp đời…” 

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 7 có tên “Thanh khí” đặc trưng cho sự dẫn truyền âm thanh hay sóng có mang thông tin. Luyện tập khi luân xa 7 bắt đầu khai mở cao cảm giác đầu, cổ gáy nặng nề rất khó chịu, hoặc đỉnh đầu như đang chẻ ra như hình chữ V, hoặc cảm giác trên đầu mát lạnh, hoặc có nhiều hơi bốc lên như khói tỏa, như cuộn tơ, như hình lốc xoáy… Khi luân xa 7 khai mở cao hơn nữa có nhiều lúc trong đầu nghe tiếng mưa, tiếng nhạc, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng gió rít, gió giông hay tiếng nổ thật to như tiếng sấm và âm vang kéo dài ngang trời. Tiếp tục luyện tập, khi  luân xa 7 khai mở hoàn hảo thì trên đỉnh đầu có khối u cao (nhục kế), hoặc chứng pháp Thiên nhĩ thông: nghe mọi tiếng nói khắp nơi, như Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là người đã sở đắc tối thượng, Ngài nghe rõ tất cả ý niệm của mọi loài chúng sinh ở những cõi giới khác nhau trong vũ trụ.  

Nếu giữ tâm ý tĩnh lặng tuyệt đối - dù chỉ trong giây phút thì luân xa 7 khai mở cao tác động tới thính lực của hành giả, tai nghe rất rõ những âm thanh cực nhỏ phát ra từ nơi rất xa. Khi đó hành giả có thể dùng pháp Truyền âm nhập mật để trao đổi thông tin cho nhau những bí pháp mà người khác không thể nghe được, và còn nghe rõ lời thầm khấn vái, cầu xin của người khác, tiếng kêu la của các loài ác quỷ, cả những vong hồn đang khóc than hay oán trách. Khi hành giả ngủ hoặc thiền tịnh thường được nghe các chân sư dạy đạo, các bậc tiên thánh truyền trao cho những bí pháp hay chỉ dẫn vài phương thuốc “thần” để cứu dân, giúp đời. Thực sự đó không phải sóng âm từ bên ngoài và nghe được bằng tai thường, mà là diệu âm từ vô thức sâu thẳm truyền đến qua hệ thần kinh của não vừa được kích hoạt. Cổ nhân xưa kia chưa có đủ điều kiện nghiên cứu nên cho đó là lời chỉ dẫn, truyền dạy của tiên thánh.       

Luân xa 8: Có 02 vòng quay, phát ra ánh sáng màu ngọc lam bao bọc thân thể, là vòng hào quang thứ tám. Nó có chức năng quản lý về tư duy, sáng tạo, và điều hành tiêu hoá, huyết mạch, thị giác... Nếu luân xa 8 hoạt động không bình thường thì các cơ quan nói trên bị bệnh rất lâu dài. 

Luân xa 8 là trung tâm cảm nhận sự liên kết của con người với vũ trụ bằng ánh sáng tràn ngập, nó cùng với luân xa 4 chuyển hóa tình yêu thương vô điều kiện thành lòng từ bi, bác ái. Những người bẩm sinh có luân xa 8 khai mở cao sẽ trở thành nhà hiền triết, các triết gia có tài, nhà lãnh đạo tôn giáo hoặc nhà chiêm tinh xuất sắc. Người bị yếu luân xa 8 thì ý chí không vững, khả năng lao động bị suy giảm do tính nhút nhát và tinh thần không tập trung, đêm ngủ hay bị giật mình hoặc nói mê liên tục. Luân xa 8 hoạt động không bình thường làm cho con người thiếu đức tin, nhìn không sâu xa, không lắng nghe sự thật, nếu luân xa 8 và 4 cùng hoạt động thấp kém thì người đam mê vật chất, có túi tham không đáy, là kẻ “buôn thần bán thánh”, độc ác, dã man… 

Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 8 có tên “Sắc khí”, đặc trưng cho việc dẫn truyền màu sắc, hình ảnh và cảnh vật. Luân xa 8 là nơi cõi tịnh cao nhất nên khi khai mở cao không có hiện tượng và hình ảnh xuất hiện nhiều như các luân xa khác. Luân xa 8 khai mở cao ta có cảm giác trước trán trống rỗng, ta cũng thấy được màu sắc của các luân xa đang quay hoặc mây ngũ sắc sáng chói. Người luyện tập luân xa 8 khai mở cao có thể nói người đó như được sinh ra lần thứ hai với thể chất và trí tuệ cao hơn hẳn con người cũ trước kia. Khi luân xa 8 khai mở hoàn hảo, đặc biệt nơi huyệt ấn đường có mọc sợi lông màu trắng bạc rất nhỏ, mềm, dài và xoắn tròn lại như cái nút áo và chiếu ra năm màu sắc rất sáng chói, thật lạ kỳ, và chứng pháp Thiên nhãn thông: thấy rõ mọi vật trong vũ trụ.   

Người tu luyện Sắc khí sẽ khai mở thần nhãn, mỗi trường phái có phương pháp luyện tập khác nhau như nhìn vào một điểm, mặt trời buổi sáng, ngọn hương (nhang) đang cháy, mặt trăng, ngôi sao, bông hoa đẹp, mây bay hay nước trôi lững lờ. Thần nhãn và Miêu công có phần giống nhau trong cách luyện tập nhưng công dụng thì khác nhau. Miêu công thuộc về võ thuật, là mắt kẻ sát thủ, khiến đối phương rối loạn tinh thần tự vệ, mất hết dũng khí chiến đấu. Còn thần nhãn thuộc về y thuật, là luyện mắt để chữa bệnh, giúp người hạnh phúc. Người có thần nhãn thì có khả năng điều khiển sóng não của người khác làm thay đổi tư tưởng của họ, khiến kẻ ác phải nhận tội và thay đổi tính xấu, họ có thể làm hàng phục các thú dữ, có khả năng chữa bệnh bằng thôi miên, nhãn phù đạo, quang phổ, v.v… Một số người cho rằng thần nhãn là của phương Tây và miêu công là của phương Đông. Sở dĩ có sự phân biệt như vậy là do tư tưởng phát lệnh khác nhau tùy thuộc vào từng mục đích ứng dụng khác nhau, còn về bản chất thì chúng chỉ là một.    

Cũng cần hiểu rõ, những người có huệ nhãn (mắt thứ ba) do luyện tập luân xa 6 khai mở cao hoặc có các chân linh, phần hồn nhập xác. Nhà ngoại cảm dùng huệ nhãn từ luân xa 6 để tìm thấy những điều muốn biết bằng cách nhắm mắt hoặc ít nhất cũng phải qua một lần chớp mắt. Nhà thôi miên khi dùng thần nhãn từ luân xa 8 thì phải mở mắt, thậm chí mắt mở rất to. Người có thiên nhãn thông là do luân xa 8 khai mở hoàn hảo. Những bậc tu hành chân chính khi tám luân xa đều khai mở hoàn hảo thì chứng pháp Lậu tận thông: trong sạch hoàn toàn, nhà đạo dứt bỏ hết các tríu mến, chấp trước, không còn chấp pháp, không còn chấp ngã.     

Người mới luyện tập nên nhớ các luân xa của mình hoạt động vẫn chưa hoàn hảo, nếu cảm giác thấy hiện tượng lạ thoáng xuất hiện hoặc thấy trong giấc mơ cũng đừng đem ra phô trương, khoe khoang với người thân, bạn bè chung quanh, nếu không cái “tôi” trỗi dậy mạnh mẽ làm tính ngạo mạn bùng phát thiêu đốt mọi thành quả ban đầu, hãy như mũi tên đã bay đúng hướng rồi thì phải tiếp tục đến đích một mình mà không thể tìm bạn để nói chuyện. Khi nhân duyên đầy đủ thì tám luân xa đạt chuẩn về tốc độ và mầu sắc, hành giả sẽ trở thành một người mới cả về thân xác lẫn tâm thức, phẩm chất cuộc sống vượt lên ở một cấp độ cao hơn trong một không gian mới mà chỉ có thể trải nghiệm qua cảm nhận chứ không thể mô tả bằng lời. Đó là hành trình nội tâm để ngộ ra chính mình và có được mọi thông thái, đó cũng là bước đường tâm linh vượt qua mọi giới hạn của thể xác và tâm trí nhị nguyên để trở về bản tính nguyên thủy của mình. Huyền năng phi phàm thu được lúc này chỉ có ý nghĩa như một dấu ấn tự nhiên trong tu luyện, và các bậc chân sư xem huyền năng là một phương tiện chứ không phải đấy là mục đích cuối cùng.   


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại

Các thông tin khác

                   

  CLB. KCKCT TP Hà Nội                                CLB. KCKCT TP Hồ Chí Minh                       CLB. KCKCT TP Saint Petersburg - Nga     CLB. KCKCT TP Tver - Liên Bang Nga        CLB. KCKCT TP Moscow - Liên B. Nga

 
 


 

Website: http://www.khicongkimcangthien.com

              http://www.khicongkimcangthien.net