Hướng dẫn khí công KCT
Trung cấp I
Cập nhật lúc: 17 Tháng Mười Một 2011 4:54:16 CH

 

                                               Trung cấp I  

 

SỰ LIÊN QUAN GIỮA CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ QUA SÁCH “KINH DỊCH”

 

I - KHÁI NIỆM:

Kinh Dịch trong học thuật Trung Hoa là một kỳ thư thâu tóm được mọi nguyên lý sinh thành và hủy diệt của vạn vật. Dịch có hai bộ phận: hình nhi thượng học và hình nhi hạ học. Dịch cũng gồm cả hai cái học nhị nguyên và nhất nguyên. Bởi vậy, Dịch chẳng những là một bộ sách triết lý siêu hình và huyền diệu của huyền học Trung Hoa, nó cũng là bộ sách triết lý khoa học của bất cứ khoa học nào của Trung Hoa như y học, thiên văn học, xã hội học, tâm lý học, âm dương học, địa lý học, toán học, vật lý học, v.v… và cả những khoa học gọi là “huyền bí” nữa. Đúng như có người đã nói: “Dịch, quán quần kinh chi thủ” - Dịch là quyển sách đầu não bao quát tất cả mọi kinh sách của Trung Hoa.

Nhưng hiểu thấu được Dịch rất khó, vì điều quan trọng của Dịch không phải ở lời mà ở tượng và số, rồi cũng không chỉ ở Tượng và Số mà còn ở Ý: “Ý tại môn ngoại”, như Chu Hy đã nói trong Dịch thuyết Cương lĩnh: “Phục Hy vạch ra 8 quẻ, tuy chỉ có mấy nét mà bao quát được hết mọi lẽ huyền vi trong trời đất. Kẻ học hiểu được lời thì mới hiểu được phần thô, khi nào hiểu được phần tượng là đạt đến phần tinh của nó mà thôi”. Thật vậy, có đọc “lời” mới đạt đến chỗ “không lời” của sách Dịch. Trình Di nói: “Tiền nhơn vì ‘ý’ mà truyền ‘lời’, kẻ hậu học lại đọc lời mà quên ý, vì vậy mà Dịch thất truyền đã từ lâu”.

Dịch là biến. Nghĩa chính của nó là thế, mà văn từ lại thuộc về tịnh giới, không làm sao biểu diễn được cái động cực kỳ mau chóng của đạo. Bởi vậy, đọc Dịch mà chết trong lời là chưa biết đọc Dịch. Dịch kinh là một thứ kinh vô tự. Hơn nữa, Dịch có nghĩa là biến và biến hai chiều xuôi ngược, thì với đầu óc nhị nguyên lý trí chỉ suy nghĩ có một chiều thuận, nghịch làm sao thấu hết. Dịch chẳng những chỉ có một nghĩa, mà còn nhiều nghĩa. Dịch là biến mà cũng là bất biến. Hay nói một cách khác, Dịch là động: động trong cái tịnh. Bởi vậy, Thiệu Khang Tiết nhận định: “Từ chỗ biến mà biết được chỗ bất biến, mới có thể bàn đến Dịch”. Thật vậy, âm dương là căn bản của mọi biến động, nhưng âm dương lại chẳng phải hai, tuy trong thực tế rõ ràng là hai. Khó là ở chỗ đó. Âm là tịnh; dương là động. Nhưng “Âm trung hữu dương căn; Dương trung hữu âm căn, thì trong tịnh có động, trong động có tịnh”. Bởi vậy, Lão Tử mới khuyên ta dè dặt: “Họa trung hữu phúc, phúc trung hữu họa”. 

Đạo sĩ Kim Cang Ta chỉ cách quán tưởng đặc biệt kinh Dịch như sau: Nhìn vào bảng tập hợp 64 quẻ Dịch thật lâu, không chớp mắt, trong đó sẽ xuất hiện những ảnh ảo rất rõ ràng và nó biến hóa ra mỗi lúc mỗi khác, rất kỳ lạ... giúp ta khám phá những bí ẩn của vũ trụ đang nằm trong kinh Dịch. Đây cũng là một cách động não tích cực để tâm linh nhận thấy còn rất nhiều “ý” trong “tượng” và “số”. Ông cũng chơi chữ và nhắc khéo rằng: “đọc thư cầu lý”, đọc sách cần tìm ra cái điều thâm thúy trong đó, đọc kinh Dịch tránh vội vàng, qua loa. Đọc Dịch hoài mà không hiểu là “mắc dịch”; không hiểu Dịch mà hay bày vẽ là “bị dịch”, nếu mắc dịch cần phải chữa sớm, còn bị dịch thì đừng để lây lan...          

 

II DỊCH LÝ 

Dịch: kinh Dịch. Lý: triết lý.

Dịch lý là triết lý trong Kinh Dịch.

Kinh Dịch là một bộ sách rất xưa và rất nổi tiếng, nói về triết lý vũ trụ và nhân sinh của cổ nhân Trung hoa.

Nhưng trước hết, chúng ta xem Dịch là gì?

Theo chiết tự, Dịch có phần trên là chữ Nhựt : mặt trời, phần dưới là biến thể của chữ Nguyệt : mặt trăng.

Như vậy Dịch là sự vận chuyển biến đổi của mặt trời và mặt trăng, tức là của ngày đêm, sáng tối, nói một cách tổng quát thì Dịch là sự biến đổi của Âm Dương.

Âm Dương có tính chất tương phản nhau nhưng cũng tương ứng, tương cầu (tìm nhau), tương giao (gặp nhau), có tương giao mới có tương thôi (xô đẩy nhau), tương thể (thay thế nhau và bổ túc nhau) để tương thành (giúp nhau hoàn thành).

Dịch còn là biến dịch, tức là biến hóa, và mọi vật đều do sự biến hóa của Âm Dương mà ra. Sở dĩ có sự biến hóa như thế là vì do hai Khí Âm Dương tương ma (chà xát nhau) và nhờ đó mà sanh thành vạn vật.

Theo chiết tự, Dịch có phần trên là chữ Nhựt: mặt trời, phần dưới là biến thể của chữ Nguyệt: mặt trăng. Như vậy Dịch là sự vận chuyển biến đổi của mặt trời và mặt trăng, tức là của ngày - đêm, sáng - tối, nói một cách tổng quát thì Dịch là sự biến đổi của âm – dương trong vũ trụ. Âm - dương có tính chất tương phản nhau nhưng cũng tương ứng, tương cầu (tìm nhau), tương giao (gặp nhau), có tương giao mới có tương thôi (xô đẩy nhau), tương thế (thay thế nhau và bổ túc nhau) để tương thành (giúp nhau hoàn thành).

Dịch còn là biến dịch, tức là biến hóa, và mọi vật đều do sự biến hóa của âm dương mà ra. Sở dĩ có sự biến hóa như thế là do hai khí âm dương tương ma (chà xát nhau) và nhờ đó mà sanh thành vạn vật. Sự biến dịch cũng có qui luật: Phản phục, tuần hoàn. Phản phục là khi âm thịnh thì dương suy, hết tĩnh tới động, hết động tới tĩnh, vật cùng tắc biến, mà biến thì phản phục. Nhờ sự phản phục mà sự vật trong vũ trụ không bị bế tắc, không bị cùng, nên mới thông được mà sinh sinh hóa hóa mãi mãi.

Về vũ trụ quan: Kinh Dịch xây dựng nguyên lý âm dương làm nguồn gốc của vũ trụ. Dương (càn) tạo ra vạn vật vô hình, thuộc phần khí, nhưng phải nhờ âm (khôn) vạn vật mới chuyển qua hữu hình, cho nên công của Khôn cũng lớn như công của Càn, nhưng Khôn phải ở sau Càn, tùy thuộc Càn và bổ túc Càn. Càn - Khôn không phải tự nhiên mà có. Càn - Khôn tức âm dương do Thái Cực biến hóa sanh ra. Đây mới chính thật là khởi điểm của Càn Khôn vũ trụ. Khi âm dương thống nhứt trở lại thì biến thành Thái Cực, tức là từ nhị nguyên trở về nhứt nguyên.

Về nhân sinh quan: Kinh Dịch nêu rõ thiên nhân tương dữ, tức cho rằng: Vũ trụ vạn vật đồng nhứt thể. Đại biểu của vũ trụ là trời đất, đại biểu của vạn vật là người. Trời đất và người cùng một thể, nên người được đứng vào hàng tam tài (thiên, địa, nhân). Phép tắc của trời làm mô phạm cho hành vi của người, tức là thiên đạo làm mô phạm cho nhơn đạo. Cả vũ trụ chỉ là âm dương, trời dương, đất âm, trai là dương, gái là âm, như vậy trời đất và con người là nhất thể. Loài người bị luật âm dương chi phối, thì nhơn đạo bị thiên đạo chi phối. Cho nên trong thuyết Quái truyện của Kinh Dịch có ghi rằng: Dịch lập đạo trời là âm dương, đạo đất là cương nhu, đạo người là nhân nghĩa.

Trong 64 quẻ của Kinh Dịch, tổng hợp lại chỉ nói bao gồm trong hai chữ: TRUNG CHÁNH.

* Chánh là ngay thẳng, hợp với đạo lý. 
      * Trung là ngay giữa, không nghiêng lệch.

Đạo lý trong thiên hạ chỉ khiến cho việc không trung trở về chỗ trung, việc không chánh trở về chỗ chánh. Trung chánh là quan niệm căn bản trong kinh Dịch. Nhưng chánh không quí bằng trung, vì có chánh chưa hẳn đã có trung, nhưng khi giữ được trung thì đã có chánh rồi. Như thế, trung bao gồm chánh, chớ chánh không bao gồm được trung. Khi quan sát các việc thiên nhiên trong trời đất, thấy cái gì đi đến chỗ thái quá thì gây phản ứng, nên thánh nhân khuyên giữ lấy đạo trung, phải giữ quân bình để tránh phản ứng tức là tránh tai họa.

Nhưng 2 chữ chánh trung lại gồm trong một chữ THỜI. Hợp thời mới gọi là trung. Thí dụ như người giàu sang mà keo kiệt, người nghèo khó mà xa xỉ, thế thì không hợp thời, tức không phải là trung. Thời gồm cả chánh nữa, bởi vì nếu chánh mà không hợp thời thì thành ra xấu. Tùy thời mà vẫn giữ được trung chánh. Chúng ta phải biết lúc nào nên cương, lúc nào nên nhu, lúc nào nên tiến, lúc nào nên thoái, lúc nào nên động, lúc nào nên tĩnh,... tức là phải tùy thời mà hành động. Cái đó rất khó, phải bình tĩnh, vô tư, sáng suốt thì mới biết tùy thời.

64 quẻ của kinh Dịch là 64 thời; 384 hào là 384 hoàn cảnh. Bấy nhiêu đó mà suy ra thì có thể áp dụng cho mọi việc mọi lúc trong đời sống.  

Như phần trên đã nói: Dịch là âm - dương, hai thế lực ấy không bao giờ tiêu diệt nhau, nhưng lại biến đổi nghịch chiều nhau: Âm thịnh thì dương suy, hay ngược lại. Từ chỗ đó mới suy ra thiện và ác, tiên Phật và quỉ ma, quân tử và tiểu nhân. Hai cái đó luôn luôn tồn tại, kềm giữ nhau chớ không thể tiêu diệt nhau. Nếu không có ác thì làm sao biết thiện, không có quỉ ma thì làm sao biết tiên Phật, cũng như không có tiểu nhân thì làm sao biết được người nào là quân tử. Thời thịnh thì quân tử thắng, tiểu nhân thối nhưng nó vẫn còn ẩn náu ở đó chớ không phải bị tiêu diệt. Cuộc tranh đấu giữa thiện và ác không bao giờ chấm dứt, từ bao đời xưa và sẽ mãi mãi tồn tại đến bao đời sau. Người quân tử phải dụng đức trí mà tùy thời hành động cho thích hợp. Khi đắc thời thì khoan dung với tiểu nhân, còn khi thất thời thì qui ẩn giữ đạo trung chánh.     

 

III-  ÂM DƯƠNG  陰 陽

Ý nghĩa khởi đầu của hai chữ Âm Dương là:

      * Dương là nơi có ánh sáng mặt Trời rọi tới, nên sáng sủa ấm áp.

      * Âm là phần bị khuất ánh sáng mặt Trời, nên tối đen lạnh lẽo.

Như vậy, khi ta đặt một vật dưới ánh sáng mặt Trời thì:

     * Phần vật bên phía ánh sáng được gọi là Dương.

     * Phần vật phía sau, chỗ bóng tối là Âm.

Chúng ta có được ý nghĩa nầy là do giải thích 2 chữ Âm Dương bằng cách chiết tự.

Giải thích chữ ÂM DƯƠNG bằng chiết tự:

Chữ DƯƠNG gồm 2 phần: Bên trái là là bộ Phụ là núi đất, bên phải có chữ Nhựt là mặt trời đứng trên đường ngang, ý nói mặt trời đã mọc lên khỏi đường chơn trời, bên dưới là chữ Vật vẽ hình giống các tia sáng rọi xuống.

Do đó, chữ Dương có nghĩa là phía có ánh sáng mặt trời chiếu vào, nên sáng sủa.

Chữ ÂM bên trái có bộ Phụ là núi đất, bên phải, phía trên là chữ Kim có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân , ý nói bị mây che khuất nên tối tăm.

Do đó Âm là chỉ phía mặt trời bị che khuất.

Phía có mặt trời chiếu vào thì sáng sủa ấm áp, cây cối phát triển; còn phía ánh sáng mặt trời bị che khuất thì tối tăm, lạnh lẽo, cây cối không phát triển.

Do đó, chữ Âm Dương, nghĩa khởi đầu của nó là Tối Sáng, suy thành các nghĩa khác là hai cái tương phản nhau mà có cùng nguồn gốc như: lạnh nóng, đêm ngày, nữ nam, ác thiện, xấu tốt, đục trong, vv... Và hai Khí do Thái Cực biến hóa sanh ra cũng được gọi là hai Khí Âm Dương vì hai Khí nầy có đặc tính trái ngược nhau mà không tương hại.

Vậy, Âm Dương là Tối Sáng. Từ ý nghĩa ban đầu nầy, người ta suy ra các ý nghĩa khác để chỉ hai cái tương phản nhau mà có cùng một nguồn gốc như: Lạnh nóng, đêm ngày, chết sống, nữ nam, ác thiện, đục trong, v.v... và sau đó đi tới cái nguyên lý ban đầu là hai Khí: Khí Âm và Khí Dương do Thái Cực biến hóa sanh ra.. Ðây là khởi điểm của Càn Khôn Vũ Trụ  và vạn vật. 

 

 

Hình đồ 3ÂM DƯƠNG      


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại

Các thông tin khác

                   

  CLB. KCKCT TP Hà Nội                                CLB. KCKCT TP Hồ Chí Minh                       CLB. KCKCT TP Saint Petersburg - Nga     CLB. KCKCT TP Tver - Liên Bang Nga        CLB. KCKCT TP Moscow - Liên B. Nga

 
 


 

Website: http://www.khicongkimcangthien.com

              http://www.khicongkimcangthien.net